Quan tâm, bảo vệ thị lực học đường

23/10/2026 - 09:38

 - Cận thị học đường đang trở thành vấn đề đáng quan tâm, ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập và sự phát triển của trẻ em. Việc nâng cao nhận thức, hình thành thói quen sinh hoạt khoa học, khám mắt định kỳ và phát hiện sớm các tật khúc xạ là giải pháp cần thiết để bảo vệ thị lực cho học sinh.

Học sinh Trường THCS Tri Tôn (Phân hiệu I) được kiểm tra mắt.

Tại Trường Trung học cơ sở Tri Tôn (Phân hiệu I), xã Tri Tôn, qua một buổi tầm soát tật khúc xạ, có gần 50 học sinh được phát hiện cận thị, loạn thị từ 1 - 7 độ. Đáng chú ý, có em mới học lớp 7 đã cận 6 độ cả hai mắt. Thực trạng này gióng lên hồi chuông cảnh báo về sức khỏe thị lực học đường cần được quan tâm.

Em Chau Kim Thia, học sinh lớp 9A11 bị cận 6,5 độ. Em Thia cho biết em phát hiện bị cận thị từ lớp 4 nhưng chỉ đeo kính khi đi học, còn ở nhà ít đọc chữ nên không đeo. Em sử dụng điện thoại từ lớp 1, mỗi ngày ít nhất 5 tiếng. Tương tự, em Nguyễn Lê Anh Thư - học sinh lớp 7A13 cho biết ngoài giờ học em thường sử dụng điện thoại để xem TikTok từ 6 - 7 tiếng mỗi ngày, có hôm xem đến 22 giờ.

Theo bác sĩ chuyên khoa II Dương Tòng Chinh, Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp, kiêm Trưởng Khoa Mắt, Bệnh viện Mắt - Tai mũi họng - Răng hàm mặt An Giang, cận thị học đường thường khởi phát ở trẻ từ 6 - 14 tuổi, nhưng hiện nay có xu hướng xuất hiện sớm hơn, thậm chí ở trẻ từ 4 - 6 tuổi.

Giai đoạn cận thị tiến triển nhanh thường trong độ tuổi 9 - 13 tuổi. Trẻ khởi phát cận thị càng sớm thì nguy cơ tiến triển nặng càng cao. Nguyên nhân gây cận thị có thể liên quan đến yếu tố di truyền, nhất là khi cha mẹ bị cận thị và những thói quen sinh hoạt thiếu khoa học.

Trẻ ít tham gia hoạt động ngoài trời, thường xuyên nhìn gần vào màn hình điện thoại, tivi, máy tính bảng hoặc máy vi tính trong thời gian dài; đọc sách, viết bài quá sát mắt và học tập trong điều kiện ánh sáng không phù hợp đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ khởi phát, tiến triển cận thị.

Ông Dương Tòng Chinh cho biết khi cận thị tiến triển nặng mà không được theo dõi, quản lý đúng cách, trẻ có nguy cơ gặp các biến chứng như thoái hóa võng mạc, bong võng mạc, tăng nhãn áp, dẫn đến suy giảm thị lực khó phục hồi. Trong học tập và sinh hoạt hằng ngày, thị lực kém còn khiến trẻ khó nhìn rõ bảng, dễ mỏi mắt, đau đầu, giảm khả năng tập trung, từ đó ảnh hưởng đến kết quả học tập và sự tự tin.

Cô Lê Thị Đẹp, giáo viên Trường Trung học cơ sở Tri Tôn (Phân hiệu I) cho biết: “Lớp tôi có khoảng 5 em bị cận thị. Tôi thường bố trí các em ngồi bàn đầu, đồng thời gọi điện thoại, nhắn tin đề nghị phụ huynh đưa con đi khám mắt. Tuy nhiên, sự phối hợp từ một số gia đình chưa được như mong muốn, có em ngồi bàn nhất vẫn không thấy chữ trên bảng nhưng phụ huynh vẫn chưa quan tâm”.

Phần lớn học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ phải bươn chải mưu sinh hoặc đi làm ăn xa, nhiều em sống với ông bà... nên việc theo dõi sức khỏe và việc học của các em còn hạn chế. Tình trạng này không chỉ xuất hiện ở vùng sâu, vùng xa mà còn ở khu vực thành thị. Khi việc chăm sóc mắt chưa được quan tâm đúng mức, những dấu hiệu bất thường về thị lực có thể kéo dài, khiến trẻ bỏ lỡ thời điểm phát hiện và can thiệp phù hợp.

Để nhận biết sớm các vấn đề về thị lực, phụ huynh và giáo viên cần chú ý các biểu hiện như trẻ thường xuyên nheo mắt, nghiêng đầu khi nhìn vật ở xa; đau đầu, mỏi mắt sau khi đọc sách, học bài hoặc sử dụng thiết bị điện tử; đọc, viết khó khăn, thường bỏ sót chữ hoặc để sách quá gần mắt. Trẻ ngồi sát tivi, máy vi tính hoặc phải đến gần bảng mới nhìn rõ. Khi xuất hiện những dấu hiệu này, phụ huynh cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để kiểm tra mắt.

Một trong những rào cản trong chăm sóc mắt cho trẻ là quan niệm đeo kính sẽ khiến mắt phụ thuộc vào kính hoặc cận nhẹ thì chưa cần đeo. Ông Dương Tòng Chinh cho biết việc không đeo kính đúng độ khi có chỉ định có thể khiến mắt phải tăng điều tiết, gây mỏi mắt, đau đầu và ảnh hưởng đến khả năng học tập. Vì vậy, phụ huynh cần đưa trẻ đi khám để được xác định tình trạng thị lực và hướng dẫn sử dụng kính phù hợp, không tự ý mua kính không rõ nguồn gốc.

Để phòng ngừa và hạn chế tiến triển cận thị học đường, ông Dương Tòng Chinh khuyến cáo cần tạo điều kiện cho trẻ tham gia hoạt động ngoài trời khoảng 2 giờ mỗi ngày; thực hiện quy tắc 20 - 20 - 20, tức là cứ 20 phút nhìn gần thì nhìn ra xa khoảng 6m trong 20 giây; sau 60 phút học tập nên nghỉ ngơi từ 5 - 10 phút. Trẻ cần ngồi đúng tư thế, giữ khoảng cách từ mắt đến sách vở khoảng 25 - 30cm, học tập trong điều kiện đủ ánh sáng và hạn chế sử dụng thiết bị điện tử, nhất là trước giờ ngủ.

Việc khám mắt định kỳ từ 6 tháng đến 1 năm cũng cần được duy trì để kịp thời phát hiện những bất thường về thị lực. Theo ông Dương Tòng Chinh, với trẻ đã bị cận thị, tùy tình trạng cụ thể, bác sĩ có thể chỉ định kính gọng hoặc thuốc nhỏ mắt Atropin nồng độ thấp nhằm làm chậm tiến triển cận thị.

Đeo kính đúng độ, đúng chỉ định giúp trẻ nhìn rõ hơn, giảm gánh nặng điều tiết, hạn chế mỏi mắt, đau đầu và cải thiện khả năng tập trung khi học tập. Đây cũng là một phần trong quá trình chăm sóc, bảo vệ thị lực lâu dài cho trẻ.

HẠNH CHÂU