VCCI: Gần 90% doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực bởi COVID-19

12/03/2021 - 18:46

Năm qua 2020 ghi dấu sự kiên cường của cộng đồng doanh nghiệp để vượt lên hoàn cảnh khó khăn, thể hiện khả năng chống chịu kiên cường và trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi của nền kinh tế.

A A

35% doanh nghiệp tư nhân và 22% doanh nghiệp FDI đã phải cho người lao động nghỉ việc do ảnh hưởng bởi COVID-19. (Ảnh minh họa/TTXVN)

“Gần 90% doanh nghiệp bị tác động nặng nề bởi dịch bệnh với nhiều hệ lụy như giảm sút khả năng tiếp cận khách hàng, mất cân bằng về dòng tiền, chuỗi cung ứng bị gián đoạn do chịu tác động bởi COVID-19. Nhiều doanh nghiệp đã phải cho lao động nghỉ việc, ngừng hoạt động, thậm chí phá sản và đối tượng  chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, các công ty trẻ chưa đầy 3 năm tuổi.”

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) đưa ra thông tin tại Lễ công bố báo cáo "Tác động của dịch bệnh COVID-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam: Một số phát hiện chinh từ điều tra doanh nghiệp năm 2020," ngày 12/3.

Chỉ 2% doanh nghiệp có hoạt động tích cực

Báo cáo trên đã thực hiện khảo sát tại 10.197 doanh nghiệp trên toàn quốc nhằm đưa ra góc nhìn cụ thể về ảnh hưởng của COVID-19 và cách thức ứng phó của doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh.

Cụ thể, 8.633 doanh nghiệp trong nước tham gia khảo sát cho biết 87,1% bị ảnh hưởng tiêu cực, 11% không bị ảnh hưởng và 2% hoạt động tích cực. Các lĩnh vực chịu ảnh hưởng lớn nhất là may mặc, thông tin, truyền thông, thiết bị điện, sản xuất xe có động cơ.

Bên cạnh đó, 1.564 doanh nghiệp FDI tham gia khảo sát cũng cho hay 87,9% chịu tác động tiêu cực, 11,4% không ảnh hưởng gì và chỉ có 0,8% duy trì kinh doanh hiệu quả.

Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban pháp chế của VCCI chỉ ra dịch bệnh COVID-19 đã tác động đến doanh nghiệp trên nhiều phương diện, khu vực doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng về tiếp cận khách hàng (50%), dòng tiền (46%), lao động (38%) và chuỗi cung ứng (33%). Với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), dịch bệnh cũng gây nên nhiều xáo trộn về tiếp cận khách hàng (63%), dòng tiền (42%), lao động (34%) và chuỗi cung ứng (41%).

Theo ông Tuấn, dịch bệnh COVID-19 còn tác động dai dẳng đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam. Trên thực tế 35% doanh nghiệp tư nhân và 22% doanh nghiệp FDI đã phải cho người lao động nghỉ việc để cầm cự hoạt động kinh doanh.

Nguồn: VCCI

Ông Lộc nhấn mạnh mức trưởng GDP của Việt Nam ở mức thấp nhất trong năm 2020 khi chưa bằng một nửa so với những năm trước đây và số lượng doanh nghiệp rút khỏi thị trường lên đến mức kỷ lục và vượt ngưỡng 100.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, năm qua cũng ghi dấu sự kiên cường của cộng đồng doanh nghiệp để vượt lên hoàn cảnh khó khăn và thể hiện khả năng chống chịu kiên cường. Điều này đang trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi của nền kinh tế cũng như cộng đồng doanh nghiệp Việt.

“Có được những kết quả trên, ngoài sự chủ động tích cực của cộng đồng doanh nghiệp có vai trò cổ vũ và yểm trợ của Nhà nước. Các chính sách hỗ trợ và sự đồng hành của Chính phủ trong bối cảnh COVID-19 được các doanh nghiệp đánh giá cao, nhất là các chính sách tài khoá như việc giãn, hoãn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, tiền thuê đất, các chính sách nới lỏng về tín dụng của các ngân hàng. Song, chính sách cho vay với lãi suất bằng 0% để trả lương cho người lao động được cho là khó tiếp cận và các doanh nghiệp vẫn đánh giá cao sự cần thiết của chính sách này. Qua khảo sát, 75% doanh nghiệp cho rằng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ là hữu ích,” ông Lộc nói.

Thực thi là khâu yếu nhất

Về kiến nghị giải pháp trong thời gian tới, đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp-người đứng đầu VCCI cho rằng bên cạnh các giải trước mắt đã được Chính phủ, các bộ ngành và chính quyền địa phương ban hành (như miễn giảm thuế, giãn thuế, gia hạn nộp thuế, giảm lãi suất, giảm các chi phí của hoạt động kinh doanh) thì cần phải chú ý đến những giải pháp có tính chất hạn dài hơn.

Cụ thể, Chính phủ cần tăng cường đầu tư công, hoàn thiện các công trình hạ tầng, thực hiện các gói kích cầu cần thiết trong giai đoạn nền kinh tế phục hồi. Trong đó, các chính sách kinh tế vĩ mô trong dài hạn cần quan tâm phát triển thị trường nội địa, thúc đẩy sự kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với người tiêu dùng hình thành các chuỗi cung ứng nội địa. Và quan trọng hơn, hầu hết các doanh nghiệp đề nghị cần tiếp tục cải thiện hệ thống pháp luật và tháo gỡ các nút thắt về thủ tục hành chính cũng như môi trường kinh doanh.

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam phát biểu. (Ảnh: Vietnam+)

“Thực thi bao giờ cũng là khâu yếu nhất. Vì vậy cần ưu tiên cải thiện năng lực thực thi. Để nâng cao hiệu quả thực thi, các bộ, ngành và chính quyền các địa phương cần tăng cường phổ biến, tuyên truyền chính sách hỗ trợ để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận được các gói hỗ trợ đã ban hành. Trong đó, cần có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết và đẩy đủ về các thủ tục, quy trình thực hiện theo hướng đơn giản, dễ thực hiện đối với các doanh nghiệp,” ông Lộc nói.

Với ông Lộc, các bộ, ngành, chính quyền địa phương cần chủ động nắm bắt tình hình triển khai các chính sách đã ban hành, đặc biệt là những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện, kịp thời có sự điều chỉnh và cách thức hỗ trợ phù hợp đối với các doanh nghiệp ở từng ngành, lĩnh vực và từng giai đoạn, mà hơn hết là chú trọng các doanh nghiệp thuộc các ngành bị tổn thương nặng nề bởi dịch COVID-19.

Ngoài ra, ông Lộc nhấn mạnh việc ban hành chính sách cần quan tâm hơn nữa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, siêu nhỏ, bởi khả năng chống chịu kém của nhóm doanh nghiệp này. Chính phủ nên có chính sách tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang trụ lại và có khả năng vượt lên sau dịch, nhất là trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng cho cuộc cạnh tranh mới.

Theo ông Lộc, việc này quan trọng không kém việc cứu các doanh nghiệp gặp khó khăn. Vì, khối doanh doanh nghiệp này sẽ song hành cùng nền kinh tế sớm vươn lên phục hồi tăng trưởng và bước vào giai đoạn phát triển mới cao hơn.

Ngoài ra, ông Lộc cũng kiến nghị các bộ, ngành có liên quan cần nghiên cứu, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các gói chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và mở rộng đầu tư kinh doanh cho giai đoạn mới 2021-2025. Bởi, theo nhiều dự báo đại dịch COVID-19 vẫn tiếp tục có những tác động nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và chỉ có thể loại trừ hoàn toàn sau 4-5 năm nữa, vì vậy trong thời gian tới cần có những chính sách mang tính dài hạn hơn.

“Cuối cùng, cần lan toả và nhân rộng được các mô hình, cách làm tốt trong việc ứng phó với đại dịch COVID-19 như các kinh nghiệm trong việc triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các hiệp hội doanh nghiệp cần chia sẻ các cách thức ứng phó hiệu quả dịch COVID-19 từ những doanh nghiệp đã tồn tại và phát triển được trong bối cảnh khó khăn của đại dịch, nhất là những bài học về lựa chọn thị trường, đối tác, quan hệ kinh doanh, đầu tư xây dựng ‘nội lực’ cốt lõi của doanh nghiệp để tăng khả năng chống chịu với các cú sốc,” ông Lộc nói.

Theo HẠNH NGUYỄN (Vietnam+)