50 năm Quốc hiệu "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới

02/07/2026 - 10:31

Ngày 2/7/2026 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc: tròn 50 năm đất nước chính thức mang quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chú thích ảnh

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới. Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định khóa Quốc hội được bầu trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 là Quốc hội khóa VI nước CHXHCN Việt Nam; quyết định chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Ðịnh là Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đời của nước CHXHCN Việt Nam mở đầu cho bước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước. Ảnh: TTXVN

Quyết định lịch sử này của Quốc hội khóa VI (1976) không chỉ hoàn tất quá trình thống nhất về mặt nhà nước mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ về con đường và mục tiêu phát triển mà dân tộc ta kiên định hướng tới.

Nhìn lại chặng đường nửa thế kỷ qua, có thể khẳng định việc lựa chọn tên nước "Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" là một tất yếu khách quan, phản ánh sâu sắc bản chất chế độ và mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta. Mỗi quốc gia, dân tộc đều có quyền chính đáng trong việc quyết định lựa chọn con đường và thể chế chính trị cho mình, và sự lựa chọn này chính là ý chí của nhân dân Việt Nam được thể hiện qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản.

Xét về tính chính trị, quốc hiệu thiêng liêng ấy khẳng định rõ hình thức chính thể của nước ta là cộng hòa, có chế độ chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa, là một nhà nước độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Bản chất của chế độ chính trị ấy được định hình rõ nét và quy định chặt chẽ trong Điều 2 Hiến pháp 2013: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; cũng như Điều 4 về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Việc giữ vững quốc hiệu này qua các bản Hiến pháp năm 1980, 1992 và 2013 đã trở thành điểm tựa vững chắc để bảo đảm sự ổn định chính trị. Hơn thế nữa, thực tiễn đã chứng minh việc thay đổi tên nước không chỉ làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính, gây tốn kém, phức tạp, mà còn tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc rằng nước ta đang xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Trong "Báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở ý kiến nhân dân" trình bày trước Quốc hội khóa XIII tại Kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2013), đại diện Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khẳng định: "Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp nhận thấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thể hiện rõ chính thể của nước ta là cộng hòa, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ. Tuy nhiên, việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm tiếp tục khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng và phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm tính ổn định, tránh việc phải thay đổi về quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên các văn bản, giấy tờ. Hơn nữa, trải qua 37 năm, tên gọi này đã trở nên quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế".

Minh chứng rõ nhất cho tính đúng đắn của thể chế chính trị ấy chính là những thành tựu vĩ đại mà đất nước đã gặt hái được dưới quốc hiệu thiêng liêng trong suốt 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới (1986 - 2026). Từ một quốc gia nghèo nàn, bị bao vây cấm vận với quy mô GDP chỉ vỏn vẹn khoảng 4,5 tỷ USD vào năm 1986, Việt Nam đã có bước bứt phá ngoạn mục, vươn lên thành nền kinh tế đạt 514 tỷ USD vào năm 2025 và ở vị trí thứ 32 toàn cầu.

Đáng tự hào hơn, tỷ lệ hộ nghèo từ mức trên 80% đã giảm xuống dưới 3%, đưa đất nước trở thành một hình mẫu tiêu biểu của thế giới về công cuộc xóa đói giảm nghèo. Đi cùng với sự bứt phá về kinh tế, uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế cũng được nâng tầm vượt bậc khi Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao ở mọi cấp độ với hàng loạt quốc gia, tham gia sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) và nhiều lần tự hào đảm nhận các vai trò quan trọng tại Liên hợp quốc.

Đứng trên nền tảng vững chắc của 40 năm Đổi mới, Đảng ta tiếp tục vạch ra tầm nhìn chiến lược đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tầm nhìn vĩ mô này thực chất là sự kế thừa, phát triển xuyên suốt từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Văn kiện này đã lần đầu tiên định hình rõ ràng mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thông qua một hệ tiêu chí cụ thể với 7 đặc trưng cơ bản. Trải qua thực tiễn, nhận thức lý luận của Đảng tiếp tục được hoàn thiện, và đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, hệ thống này đã được phát triển thành 8 đặc trưng cốt lõi.

Những đặc trưng ấy khắc họa rõ nét hình ảnh một xã hội "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.

Việc cụ thể hóa từ 7 đặc trưng năm 1991 đến 8 đặc trưng năm 2011 đã tạo nên bước chuyển lớn từ nhận thức khái quát sang một hệ tiêu chí định hướng chính sách, kiên định lấy chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của con người làm trung tâm. Do đó, chủ nghĩa xã hội không thể chỉ nằm trên định hướng lý luận mà phải được đưa vào thực tiễn đời sống hằng ngày của nhân dân.

Chú thích ảnh

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới (1976). Ảnh: TTXVN

Quán triệt tinh thần "dân là gốc" ấy, trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, việc xây dựng mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" được xem là một giải pháp mang tính đột phá nhằm chuyển hóa các nguyên lý vĩ mô thành thực tiễn sống động ở cấp cơ sở gần dân nhất. Tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 4/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhận định, đến năm 2045, Việt Nam có thể kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời gợi ý Thủ đô thí điểm xây dựng mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa" với quy mô dân số từ 500.000 đến một triệu người.

Theo định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, một đơn vị thí điểm phải bảo đảm hạ tầng đồng bộ, hệ thống giáo dục và y tế phát triển, không gian công cộng, đô thị thông minh, môi trường sống an toàn, dịch vụ công thuận tiện và chính quyền vận hành hiệu quả. Bước chuyển từ hoạch định quốc gia xuống sát cấp cơ sở này chính là cách biến các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội thành những tiêu chí cụ thể, có thể đo đếm và kiểm chứng được trong điều kiện sống hằng ngày của người dân.

Theo Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Hà, Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), trong kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên của hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thì yêu cầu cụ thể hóa các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn phát triển ở cơ sở ngày càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc xây dựng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước, như chỉ dẫn của V.I.Lenin: "Chúng ta đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng ngày, và chúng ta phải tìm hiểu cuộc sống hàng ngày".

Lộ trình hiện thực hóa mô hình cơ sở mang tính tiên phong này được hoạch định một cách bài bản, thận trọng qua bốn giai đoạn liên tiếp: từ nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí và tiến hành thí điểm (từ nay đến năm 2030); hoàn thiện khung pháp lý và nhân rộng các mô hình mẫu (2030 - 2035); tích hợp sâu rộng vào chiến lược quốc gia (2035 - 2040); và cuối cùng, tiến tới mốc lịch sử 2040 - 2045, không gian xã hội cộng đồng này sẽ được định hình hoàn thiện như một cấu phần hữu cơ của chủ nghĩa xã hội Việt Nam hiện đại, phản ánh rõ nét các giá trị nhân văn, dân chủ thực chất và phát triển bền vững vì con người.

Như vậy, giữ vững quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính là giữ vững điểm tựa chính trị, tạo tiền đề duy trì sự ổn định, môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Với niềm tự hào trải suốt nửa thế kỷ mang quốc hiệu thiêng liêng, cộng hưởng cùng những thành tựu rực rỡ đúc kết từ 40 năm Đổi mới và quyết tâm kiến tạo chủ nghĩa xã hội từ những hạt nhân cơ sở nhỏ nhất theo định hướng của Đảng, dân tộc Việt Nam đang hội tụ đủ mọi điều kiện để tự tin hướng tới tương lai. Ở đó, khát vọng về một quốc gia phát triển phồn vinh trong kỷ nguyên mới chắc chắn sẽ được hiện thực hóa bằng chính sự đoàn kết, kiên định và sức sáng tạo không ngừng của toàn Đảng, toàn dân ta trên con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn.

Theo TTXVN