Giữ thị trường cho cá tra

16/01/2026 - 05:00

 - Năm 2025, cá tra Việt Nam đạt kim ngạch hơn 2,1 tỷ USD, tiếp tục giữ vai trò ngành hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản nước ngọt. Tuy nhiên, phía sau con số tích cực ấy là thực tế cần phải tính toán. Các thị trường lớn đồng loạt siết chặt tiêu chuẩn, chất lượng, gia tăng rào cản kỹ thuật và yêu cầu khắt khe về phát triển bền vững.

Cả nước hiện có 183 cơ sở chế biến cá tra đủ điều kiện xuất khẩu. Ảnh: TRẦN KIM LUẬN

Trong bối cảnh đó, lợi thế xuất khẩu truyền thống không còn đủ để bảo đảm tăng trưởng trong dài hạn. Bài toán của cá tra Việt Nam hôm nay không chỉ là bán được bao nhiêu mà phải giữ vững thị trường bằng chất lượng và năng lực quản trị chuỗi ngành hàng.

Lợi thế xuất khẩu và những điểm nghẽn

Tại Hội nghị tổng kết ngành hàng cá tra năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 tổ chức tại TP. Cần Thơ mới đây, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, cá tra Việt Nam vẫn duy trì được nhịp tăng trưởng, tiếp tục giữ vai trò trụ cột của thủy sản nước ngọt xuất khẩu.

Theo các báo cáo chuyên ngành, năm 2025, cả nước có khoảng 300 vùng nuôi cá tra tập trung, tổng diện tích 5.500 - 5.700ha; sản lượng đạt khoảng 1,65 - 1,74 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu chế biến và xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu ước tăng khoảng 9% so năm 2024. Tại An Giang, năm 2025, doanh nghiệp, ngư dân trong tỉnh đã thu hoạch cá tra đạt sản lượng 640.402 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 350 triệu USD. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến khẳng định: “Những con số của năm 2025 cho thấy ngành hàng cá tra Việt Nam vẫn đang sở hữu lợi thế và tiềm năng rất lớn. Các thị trường chủ lực như Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU vẫn duy trì nhu cầu ổn định, tạo dư địa quan trọng cho phát triển trong thời gian tới”.

Tuy nhiên, theo ông Tiến, lợi thế đó chỉ có thể được giữ vững nếu ngành cá tra chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực giữ thị trường bền vững. Thực tế cho thấy, đằng sau bức tranh tích cực là những điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Hiện các sản phẩm cá tra phi lê tươi và đông lạnh vẫn chiếm tới 97 - 98% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi nhóm sản phẩm chế biến sâu chỉ chiếm khoảng 2 - 3%. Cơ cấu này cho thấy sự phụ thuộc quá lớn vào sản phẩm sơ chế (giá trị gia tăng thấp) và lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa vào quy mô và giá bán.

Ông Trần Mạnh Hùng - ngư dân xã Châu Phú cho rằng: “Trong các điểm nghẽn hiện nay, chất lượng con giống được xem là điểm nghẽn mang tính nền tảng của toàn chuỗi. Tỷ lệ sống thấp, giá biến động mạnh kéo theo hao hụt cao, chi phí sản xuất đội lên. Mẫu cá giống 30 con/kg hiện lên tới 70.000 - 80.000 đồng/kg. Nếu không kiểm soát được đầu vào, mọi nỗ lực nâng chất lượng ở các khâu sau đều trở nên mong manh”.

Bên cạnh con giống là giá thành nuôi đang tăng cao. Theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam, giá thành cá tra nuôi hiện ở mức 1,2 - 1,3 USD/kg, cao hơn nhiều sản phẩm cá thịt trắng trên thị trường thế giới. Chi phí thức ăn, con giống, điện, nước và xử lý môi trường tăng nhanh, trong khi giá cá nguyên liệu biến động, khiến biên lợi nhuận của người nuôi bị thu hẹp, làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn.

Giữ thị trường bằng quản trị chuỗi

Ở góc độ thị trường, các rào cản kỹ thuật và biện pháp phòng vệ thương mại tiếp tục gia tăng. Hoa Kỳ duy trì các biện pháp chống bán phá giá và kiểm soát nghiêm ngặt theo chương trình cá da trơn; EU siết chặt tiêu chuẩn về bền vững, phát thải và trách nhiệm xã hội. Thị trường Trung Quốc dù lớn nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro từ các biện pháp kiểm soát kỹ thuật và yếu tố truyền thông.

Phân tích xu hướng này, bà Tô Thị Tường Lan - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định: “Thị trường cá thịt trắng toàn cầu vẫn còn dư địa, nhưng cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt. Với cá tra Việt Nam, cơ hội chỉ trở thành lợi thế khi doanh nghiệp và chuỗi sản xuất đáp ứng tốt các tiêu chuẩn mới về bền vững, truy xuất nguồn gốc và minh bạch”.

Cả nước hiện có 183 cơ sở chế biến cá tra đủ điều kiện xuất khẩu, với tổng công suất khoảng 1,7 triệu tấn nguyên liệu/năm. Điều này cho thấy công suất chế biến không còn là điểm nghẽn. Vấn đề then chốt nằm ở chất lượng nguyên liệu đầu vào, mức độ liên kết chuỗi và khả năng đáp ứng các chuẩn mực ngày càng khắt khe của thị trường.

Trong bối cảnh mới, giữ thị trường quan trọng hơn mở rộng thị trường. Điều đó đòi hỏi Nhà nước không chỉ tăng cường quản lý chất lượng, mà còn đóng vai trò điều tiết chiến lược trong chuẩn hóa con giống, tổ chức lại sản xuất, bảo vệ thương hiệu quốc gia và dẫn dắt chuỗi cá tra thích ứng các chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, doanh nghiệp và người nuôi phải chủ động nâng cao tính tuân thủ quy định của thị trường, đầu tư dài hạn cho chất lượng và minh bạch.

Chỉ khi những nền tảng này được củng cố vững chắc, cá tra Việt Nam mới có thể chuyển từ lợi thế xuất khẩu sang năng lực giữ thị trường dài hạn, qua đó đóng góp bền vững cho phát triển kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long.

“Nếu không nâng cao chất lượng, kiểm soát chặt chuỗi sản xuất và chủ động thích ứng các tiêu chuẩn mới, lợi thế hiện có sẽ nhanh chóng bị bào mòn. Ngược lại, làm tốt những khâu này sẽ mở ra không gian phát triển bền vững và dài hạn cho cá tra Việt Nam”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nói.

MINH HIỂN