Mã số vùng trồng: “Tấm hộ chiếu” bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam

15/05/2026 - 16:19

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, trong đó quy định về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được xem là bước hoàn thiện thể chế quan trọng, góp phần bảo vệ uy tín nông sản Việt.

Đảm bảo yêu cầu chất lượng, truy xuất nguồn gốc sầu riêng. (Ảnh: Hương Giang/TTXVN)

Đảm bảo yêu cầu chất lượng, truy xuất nguồn gốc sầu riêng. (Ảnh: Hương Giang/TTXVN)

Trong nhiều năm qua, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã trở thành “tấm hộ chiếu” bắt buộc đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Tuy vậy, cùng với tốc độ tăng trưởng “nóng” của ngành rau quả, đặc biệt đối với các ngành hàng như sầu riêng, chuối, xoài, thanh long, áp lực quản lý cũng ngày càng lớn hơn - khi các thị trường nhập khẩu liên tục siết chặt yêu cầu về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, được xem là bước hoàn thiện thể chế quan trọng, nhằm chuẩn hóa, minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất nông sản phục vụ xuất khẩu theo hướng bền vững.

Công cụ kiểm soát chất lượng

Gần đây, sự thay đổi về yêu cầu của thị trường nhập khẩu đã kéo theo sự thay đổi căn bản cách nhìn nhận về vai trò của hệ thống mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nếu như trước đây nhiều nơi vẫn coi mã số vùng trồng chủ yếu là điều kiện để “đủ hồ sơ xuất khẩu,” thì hiện nay bản chất của hệ thống mã số đã thay đổi hoàn toàn.

Tại các nước nhập khẩu (nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Australia), không chỉ yêu cầu phải có mã số, mà còn yêu cầu duy trì liên tục các điều kiện kỹ thuật liên quan đến sinh vật gây hại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, điều kiện đóng gói, truy xuất nguồn gốc và hồ sơ giám sát.

Tại Việt Nam, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến tháng 5/2026, cả nước đã có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn. Riêng thị trường Trung Quốc hiện có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 mã số cơ sở đóng gói được phê duyệt.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh, nguy cơ vi phạm cũng gia tăng. Chỉ tính từ năm 2025 đến nay, đã có 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói nhận cảnh báo không tuân thủ từ phía Trung Quốc; trong đó 167 mã số vùng trồng và 99 mã số cơ sở đóng gói đã bị tạm dừng hoặc thu hồi.

Những con số trên cho thấy hệ thống mã số hiện nay không còn là “giấy thông hành hình thức,” mà đã trở thành công cụ kiểm soát chất lượng và uy tín quốc gia đối với nông sản xuất khẩu, nhất là về chất lượng. Vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý, siết chặt hậu kiểm và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia chuỗi xuất khẩu đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Cũng bởi thế, tại Hội nghị triển khai Nghị định số 38/2026/NĐ-CP diễn ra mới đây với sự tham dự của nhiều địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan chuyên môn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung đã thẳng thắn nhấn mạnh rằng: “Nếu không quản lý tốt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thì chỉ một số trường hợp vi phạm cũng có thể ảnh hưởng đến cả ngành hàng, thậm chí tác động tới uy tín quốc gia và khả năng duy trì thị trường xuất khẩu.”

Đại diện cơ quan quản lý cũng cho biết thời gian qua ở một số địa phương vẫn tồn tại tình trạng “chạy” theo số lượng, tập trung vào việc được cấp mã mà chưa chú trọng đúng mức tới công tác hậu kiểm, giám sát sau cấp mã. Bên cạnh đó, việc ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát sinh vật gây hại hay dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở nhiều nơi, cũng còn mang tính hình thức. Đây là nguyên nhân khiến nhiều mã số bị cảnh báo hoặc tạm dừng hoạt động, ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản.

Vì vậy, để đảm bảo yêu cầu trong bối cảnh mới, Nghị định 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định tương đối đầy đủ các cơ chế tạm dừng, phục hồi và thu hồi mã số với trình tự, biểu mẫu và thời hạn xử lý rõ ràng.

thu-truong.jpg

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung. (Ảnh: NNMT)

Theo giới chuyên gia, quy định trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và kỷ cương trong quản lý. Đáng chú ý, ngoài cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân được cấp mã số cũng phải chịu trách nhiệm duy trì điều kiện kỹ thuật, thực hiện ghi chép, lưu trữ hồ sơ, phối hợp giám sát và truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu. Đây chính là bước chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị chuỗi sản xuất xuất khẩu.”

Địa phương là “tuyến đầu” giữ uy tín nông sản

Tuy nhiên, một trong những nội dung được nhiều địa phương quan tâm hiện nay là vấn đề phân cấp quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói.

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, công tác phân cấp cho địa phương đã được cơ quan này triển khai từ nhiều năm thông qua các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo chuyên ngành. Trong đó, bộ giữ vai trò xây dựng thể chế, ban hành hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức tập huấn, xây dựng cơ sở dữ liệu, đàm phán với nước nhập khẩu, phối hợp hậu kiểm. Còn địa phương trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thực địa, cấp và quản lý mã số trên địa bàn.

Dù vậy, trước khi có Nghị định 38/2026/NĐ-CP, cơ chế trên chủ yếu được triển khai trên cơ sở hướng dẫn hành chính và các quy định chuyên ngành. Điều này cũng phần nào khiến công tác triển khai ở một số nơi chưa thật sự đồng bộ, đặc biệt là trong khâu phối hợp quản lý, hậu kiểm và xử lý vi phạm.

Do đó, ý nghĩa lớn nhất của Nghị định 38/2026/NĐ-CP không phải là chuyển giao thẩm quyền từ Trung ương về địa phương, mà là luật hóa, chuẩn hóa, hoàn thiện cơ chế phân cấp đã được thực hiện trong thực tiễn thời gian qua.

Theo nghị định, ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói. trên địa bàn; chỉ đạo cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và xử lý vi phạm; bố trí nguồn lực, nhân lực và kinh phí để duy trì hoạt động quản lý. Điều này thể hiện rất rõ quan điểm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường: quản lý mã số phải gắn với địa bàn thực tế, địa phương phải là lực lượng trực tiếp bám vùng trồng, bám cơ sở đóng gói; theo dõi liên tục việc duy trì điều kiện kỹ thuật và kịp thời xử lý vi phạm ngay từ cơ sở.

Tại Hội nghị triển khai Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, nhiều ý kiến cũng thống nhất rằng địa phương chính là “tuyến đầu” quyết định chất lượng thực chất của hệ thống mã số. Bởi trên thực tế, Trung ương không thể thay địa phương kiểm tra từng vùng trồng, cơ sở đóng gói hay giám sát từng lô hàng xuất khẩu. Do đó, cùng với việc hoàn thiện thể chế, các địa phương phải kiện toàn bộ máy quản lý chuyên môn; tăng cường phối hợp giữa ngành nông nghiệp, công an, quản lý thị trường và chính quyền cơ sở; xử lý nghiêm các hành vi cho thuê mã số, sử dụng sai mã số, gian lận hồ sơ hay vi phạm quy định của nước nhập khẩu.

Không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện cơ chế quản lý và phân cấp trách nhiệm, nghị định còn đặt "nền móng" cho quá trình hiện đại hóa công tác quản lý mã số theo hướng số hóa và liên thông dữ liệu. Đây cũng là nội dung phù hợp với tinh thần của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược, giữ vai trò quyết định trong nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

nong-san.jpg

Địa phương chính là “tuyến đầu” quyết định chất lượng thực chất của hệ thống mã số. (Ảnh minh họa: Đức Duy/Vietnam+)

Với ngành nông nghiệp, trồng trọt, việc số hóa quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ và tăng cường truy xuất nguồn gốc điện tử, sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Vì thế, thời gian tới, ngành nông nghiệp sẽ đẩy mạnh số hóa toàn bộ quy trình từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra thực địa, cấp mã số, giám sát, cảnh báo đến xử lý vi phạm; đồng thời liên thông dữ liệu giữa Trung ương và địa phương để nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Quan trọng hơn, khi mỗi mã số không chỉ đại diện cho một vùng trồng hay một cơ sở đóng gói, đại diện cho hình ảnh và cam kết chất lượng của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, thì việc duy trì kỷ cương, minh bạch và tuân thủ các quy định khắt khe về chất lượng, sẽ trở thành yêu cầu sống còn để ngành nông nghiệp phát triển bền vững trong giai đoạn mới./.​

Theo Vietnamplus