
Cỗ cúng ông Táo của gia đình bà Lại Đoan Trang (Hà Nội) - Ảnh minh họa: VŨ THỊ TUYẾT NHUNG
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Huỳnh Ngọc Trảng nói với Tuổi Trẻ Online rằng dân gian có câu “Hăm ba ông Táo về trời/ Bình vôi ở lại chịu đời đắng cay”, theo đó tập tục cúng ông Táo xưa nay vào ngày 23 tháng Chạp.
Tuy nhiên, cũng có gia đình cúng ông Táo vào ngày 22 tháng Chạp vì cho rằng ngày 23 ông Táo về trời, phải tiễn từ ngày 22.
Cúng tiễn ông Táo ngày 22 hay 23 tháng Chạp?
“Từ 0h ngày 23 tháng Chạp, ông Táo có thể bắt đầu về trời. Đa phần người dân cúng tiễn ông Táo ngày 23 tháng Chạp. Nhưng cũng tùy địa phương khác nhau, ngày tiễn ông Táo cũng khác nhau. Điểm chung là ngày 30 tháng Chạp (29 tháng Chạp nếu tháng thiếu) gia chủ cúng rước ông bà, đồng thời rước ông Táo về” - ông Huỳnh Ngọc Trảng cho biết thêm.
Về thời điểm cúng, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Huỳnh Ngọc Trảng chia sẻ cúng giờ nào cũng được, tiện cho công việc của mỗi người. Thông thường, người dân cúng tiễn ông Táo nhiều nhất vào buổi trưa và buổi tối.
Bài khấn ở mỗi địa phương cũng sẽ khác nhau. Điểm chung của bài khấn có ngày tháng năm, địa danh, tên gia chủ, lý do khấn, điều cung thỉnh, nguyện xin. Gia chủ mong muốn điều gì thì khấn điều đó, miễn sao thể hiện lòng thành tâm.
Một “thủ tục” không thể thiếu để tiễn ông Táo chính là lễ vật. Hoa, trái cây, bộ vàng mã Táo quân là những lễ vật luôn có mặt trong mâm cúng.
Trong đó, bộ vàng mã Táo quân gồm có áo, mão, hia, giấy vàng bạc làm lệ phí, cá chép (đối với người dân miền Bắc, cúng xong cá được thả ra sông hoặc ao), tranh ông Táo mộc bản và tượng bộ ba Táo quân (người dân miền Trung) hoặc bộ tranh cò bay ngựa chạy (người dân miền Nam).

Tranh ông Táo mộc bản và tượng bộ ba Táo quân người dân Huế thường cúng tiễn ông Táo - Ảnh: HOÀI PHƯƠNG
Mâm cúng không thể thiếu xôi, chè
Tùy theo gia đình, mâm cúng tiễn ông Táo có thể cúng chay hoặc mặn. Lễ vật trong mâm cúng chay thường có xôi, chè, kẹo thèo lèo… Cúng những món ngọt với ý gửi gắm ông Táo lựa lời ngon ngọt báo cáo với Ngọc Hoàng.
Lưu ý không cúng món gì có hình tròn, nhỏ và cứng như viên đạn, ngụ ý bắn ông Táo, ông giận sẽ không nói điều hay. Còn mâm cúng mặn thường có thêm gà luộc nguyên con, tượng trưng cho sự khởi đầu mới và may mắn.
Ngày nay, ông Táo (còn gọi là thần bếp) luôn có mặt ở mọi nhà, dù các loại bếp đã thay đổi theo tiến bộ của khoa học kỹ thuật (bếp điện từ, bếp hồng ngoại, bếp gas, lò vi sóng…).

Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng - Ảnh: QUỲNH MY
Ông Huỳnh Ngọc Trảng cho biết thêm: “Tập tục thờ thần bếp một mặt còn bảo lưu dấu ấn của tục thờ thần lửa cổ xưa và mặt khác do tích hợp các tín điều ngoại nhập, đổi thay dần, biến thần bếp thành phúc thần đảm nhận chức năng "tư mệnh", giám sát chức năng công tội của các thành viên trong gia đình.
Con người càng lúc càng có khả năng kiểm soát tác hại của lửa nên công năng "ty hỏa" của thần bếp không còn quan trọng như xưa. Điều này thể hiện qua hai câu đối trên ban thờ: Hữu đức năng ty hỏa/ Vô tư khả đạt thiên (Có đức nên có thể quản lý lửa/ Do lòng vô tư nên có thể thông đạt với trời).
Theo đó, công năng "đạt thiên" - lên trời tâu báo công tội của thế nhân để Ngọc Hoàng ban phúc, giáng họa - trở nên công năng chính của Táo. Điều này lý giải tại sao việc thờ Táo với tôn hiệu "Định phúc Táo quân" ngày càng chiếm ưu thế”.
|
"Bộ ba ông Táo gồm một bà Táo (còn gọi là ông Táo chúa) và hai ông Táo là một bộ ba tôn kính lại vừa có công dụng tạo nên ba điểm của "thế cân bằng bền” đỡ nồi, niêu, xoong, chảo... không nghiêng lệch, ngã đổ.
Truy nguyên từ tư liệu dân tộc học của người Mường, cũng như một số dị bản của sự tích thần bếp/ sự tích ông đầu rau, chúng ta thấy cơ cấu thần bếp là "bộ tứ”.
Tập tục quan trọng của người Mường là khi làm nhà mới buộc phải dựng bếp. Người ta cử hành lễ đặt ba hòn "đầu rau": Hòn chính gọi là "nục thầy”, chiếu thẳng góc với cột cái ngôi nhà; hai hòn kia gọi là "nục theo".
Ngoài bộ ba đó, người ta đặt cạnh một hòn đá to hơn ba hòn "đầu rau", gọi là "nục chủ”” - trích sách Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc.
|
Theo Tuổi Trẻ