Từ xuất khẩu nông sản sang xuất khẩu giống
Tại Hội nghị với các hiệp hội ngành hàng bàn giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2026 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức, Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo, Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị ThaiBinh Seed đề xuất, Việt Nam cần dành sự quan tâm lớn hơn cho chiến lược xuất khẩu giống cây trồng thay vì chỉ tập trung vào xuất khẩu nông sản thô như hiện nay. Những năm gần đây, ngành giống trong nước đã có bước phát triển đáng kể, nhất là ở một số cây trồng chủ lực. Công tác nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống từng bước được cải thiện, tạo tiền đề để doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế. Tuy nhiên, việc đưa giống cây trồng Việt Nam ra nước ngoài vẫn còn khá hạn chế do thiếu cơ chế phối hợp và định hướng dài hạn.

Người dân TP Hải Phòng hào hứng với giống lúa chất lượng cao Ngọc Nương 9. Ảnh: PHẠM HIẾU
Từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp, Anh hùng Lao động Trần Mạnh Báo cho rằng, Campuchia là thị trường có nhiều tiềm năng để ngành giống Việt Nam mở rộng hợp tác. Với những điều kiện canh tác tương đồng, doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào quá trình sản xuất nông nghiệp tại quốc gia láng giềng này thông qua cung cấp giống, tổ chức vùng trồng và liên kết tiêu thụ nông sản. Điều quan trọng hiện nay là cần xây dựng cơ chế hợp tác chính thức giữa hai nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đăng ký giống, triển khai sản xuất cũng như giảm thiểu rủi ro phát sinh trong quá trình hợp tác.
Không chỉ dừng ở câu chuyện mở rộng thị trường, nhiều chuyên gia cho rằng, xuất khẩu giống còn là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển nông nghiệp. Thay vì chỉ bán sản phẩm cuối cùng, doanh nghiệp Việt Nam có thể từng bước cung cấp cả công nghệ sản xuất, quy trình canh tác và hệ thống tổ chức sản xuất cho đối tác nước ngoài. Đây cũng là hướng đi giúp nâng cao giá trị gia tăng cho ngành nông nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Gỡ điểm nghẽn để ngành giống bứt phá
Đánh giá về tiềm năng phát triển của ngành giống, ông Trần Xuân Định, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam cho biết, dư địa tăng trưởng còn rất lớn. Hơn một thập kỷ qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tăng mạnh từ dưới 1 tỷ USD lên khoảng 10 tỷ USD, kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về nguồn giống chất lượng cao. Tuy nhiên, năng lực sản xuất giống trong nước còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở nhóm giống rau lai và các loại giống ứng dụng công nghệ cao. Một trong những khó khăn lớn được nhiều doanh nghiệp phản ánh là các quy định liên quan đến nhập khẩu và kiểm dịch giống cây trồng. Theo ông Trần Xuân Định, có những lô hàng giá trị nhỏ nhưng doanh nghiệp vẫn phải thực hiện đầy đủ quy trình lấy mẫu kiểm dịch với chi phí rất cao. Thậm chí, chi phí lấy mẫu có trường hợp lên tới hàng chục triệu đồng trong khi lô hàng chỉ gồm số lượng ít chủng loại giống.
Những bất cập này làm gia tăng chi phí sản xuất, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn giống mới phục vụ nghiên cứu, lai tạo. Vì vậy, nhiều ý kiến đề nghị cơ quan chức năng cần rà soát lại các quy định về kiểm dịch, phân loại hàng hóa và chính sách thuế theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù của ngành giống. Đồng thời cần tham gia sâu hơn vào các mạng lưới và hệ thống giống quốc tế nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, tiếp cận công nghệ mới và từng bước xây dựng thương hiệu giống cây trồng Việt Nam trên thị trường thế giới.
Trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng quyết liệt, ngành trồng trọt trong nước cũng đang chịu nhiều áp lực khi mức độ đầu tư và ứng dụng công nghệ ở một số cây trồng truyền thống còn hạn chế, trong khi nhiều quốc gia trong khu vực đã có sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp cùng các mô hình đầu tư bài bản hơn, nếu không sớm tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, công nghệ và thị trường, ngành giống Việt Nam sẽ khó tận dụng được cơ hội từ nhu cầu ngày càng lớn của thị trường quốc tế.
Hướng tới xuất khẩu “hệ sinh thái nông nghiệp”
Thực tế cho thấy, xuất khẩu giống cây trồng hiện không còn được nhìn nhận như hoạt động mua bán đơn lẻ mà đang gắn với định hướng xây dựng “hệ sinh thái nông nghiệp” của Việt Nam. Thống kê cho thấy, khoa học-công nghệ hiện đóng góp hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, từ khâu giống, canh tác, bảo vệ thực vật đến chế biến và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hình thành các gói “xuất khẩu trọn gói”, bao gồm giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, thiết bị sản xuất và tổ chức chuỗi giá trị.
Theo đồng chí Hoàng Trung, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện Bộ đang xây dựng đề án xuất khẩu hệ sinh thái ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Một số thị trường bước đầu được xác định là đối tác trọng tâm gồm Lào, Campuchia, Cuba và nhiều quốc gia châu Phi, nơi có nhu cầu lớn về giải pháp canh tác, quản lý chuỗi giá trị cũng như đào tạo nhân lực nông nghiệp. Định hướng này cũng phù hợp với yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc đưa công nghệ nông nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, từng bước xuất khẩu cả kinh nghiệm sản xuất và mô hình phát triển nông nghiệp Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Trong chiến lược ấy, giống cây trồng được xem là mắt xích khởi đầu của toàn bộ chuỗi giá trị. Từ hạt giống, doanh nghiệp có thể mở rộng sang chuyển giao kỹ thuật, cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu tại nước ngoài. Nếu được triển khai đồng bộ, xuất khẩu giống không chỉ góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho ngành nông nghiệp mà còn mở ra cơ hội để nông nghiệp Việt Nam chuyển từ xuất khẩu hàng hóa sang xuất khẩu năng lực sản xuất, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
Theo Quân đội nhân dân