
Nông dân tham quan ruộng mẫu của Tập đoàn Lộc Trời để chuyển đổi tư duy sản xuất theo chuỗi liên kết bền vững. Ảnh: HẠNH CHÂU
Khi nông sản chưa thoát khỏi vòng luẩn quẩn
Xoài chín vàng trên cây, rụng đầy gốc, thương lái cũng chẳng tới mua, dù giá thấp, xoài hạt lép chỉ còn 2.000 - 4.000 đồng/kg, xoài tượng da xanh dao động từ 5.000 - 10.000 đồng/kg, thấp hơn 50% so với cùng kỳ năm trước. Sầu riêng từ 85.000 - 95.000 đồng/kg, tuột dốc còn 30.000 - 45.000 đồng/kg… Ông Lê Văn Minh, ngụ ấp Trung, xã Cù Lao Giêng cho biết: “Tôi có 6 công xoài tượng da xanh đang thu hoạch, được mùa, nhưng giá thấp, nông dân sẽ lỗ nặng bởi chi phí đầu vào tăng cao”.
Nếu như 3 năm trước từng xuất hiện tỷ phú vườn xoài ở xã Chợ Mới, Cù Lao Giêng, An Phú… với giá bán xoài cát Hòa Lộc có thời điểm 70.000 - 80.000 đồng/kg, xoài tượng da xanh 30.000 - 40.000 đồng/kg. Gần đây các loại trái cây này rớt giá chỉ còn 5.000 đồng/kg xoài tượng da xanh, xoài cát Hòa Lộc còn 20.000 - 30.000 đồng/kg. Người trồng phải tự chở đi tiêu thụ để giảm chi phí đầu tư. Hình thức bán chủ yếu đổ đống trong chợ.
Theo phân tích của các chuyên gia, ngành chức năng, ngoài yếu tố khách quan từ nhu cầu thị trường, đó còn là hệ quả của việc sản xuất ồ ạt, chưa theo nhu cầu thị trường, chưa kể chất lượng khó kiểm soát… “Nông dân chúng tôi kỳ vọng chính quyền định hình rõ vùng chuyên canh, quy trình sản xuất, liên kết sản xuất và đầu ra ổn định”, ông Nguyễn Văn Tâm, ngụ xã Cù Lao Giêng bày tỏ.
Đó còn là thách thức của ngành nông nghiệp trong chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp xanh và bền vững: Giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc xuất khẩu thô, liên kết chuỗi chưa bền vững, chưa khai thác hiệu quả dữ liệu thị trường. Mặc dù nông nghiệp tỉnh nhà tiếp tục giữ vai trò trọng yếu, kim ngạch xuất khẩu đạt cao, nhưng thực tế An Giang vẫn đang đối mặt với nhiều “điểm nghẽn” như sản xuất manh mún, chạy theo số lượng thay vì chất lượng và chưa bám sát tín hiệu thị trường. Điểm nghẽn lớn nhất của chuyển đổi số không phải công nghệ mà là con người và thể chế. Tỉnh đang thiếu dữ liệu về đất đai, cây trồng, logistics, thị trường…; thiếu hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ít startup công nghệ, thiếu quỹ đầu tư, thiếu trung tâm nghiên cứu, thiếu liên kết viện - trường - doanh nghiệp. Người lớn tuổi, hộ nông dân nhỏ lẻ, doanh nghiệp nhỏ đang bị bỏ lại phía sau.
Bài học này cho thấy ngành nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải thay đổi phương thức sản xuất, phải chuyển sang tư duy kinh tế nông nghiệp, lấy giá trị gia tăng và nhu cầu thị trường làm trung tâm. Cần chuyển mạnh sang mô hình kinh tế nông nghiệp, quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sản phẩm, nhu cầu thị trường, xây dựng thương hiệu, chuỗi giá trị liên kết không đứt gãy và nâng cao thu nhập cho người dân. Ông Vũ Bá Phú - Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương cho rằng, vùng Tây Nam Bộ nắm giữ nguồn nguyên liệu nông, thủy sản dồi dào, nhưng thiếu hạ tầng chế biến sâu, logistics và kết nối thị trường quốc tế. Để biến các tiềm năng thành giá trị thặng dư cao, bắt buộc phải giải được 2 bài toán then chốt: Xúc tiến thương mại mở rộng thị trường và tối ưu hóa hạ tầng logistics…

Xoài 3 màu Cù Lao Giêng trúng mùa nhưng rớt giá. Ảnh: HẠNH CHÂU
Nút thắt nhân lực số
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, quá trình chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế số, nông nghiệp xanh và bền vững, tỉnh đối mặt với nhiều thách thức. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu nguồn vốn đầu tư công nghệ, rào cản về tư duy và hạn chế trong việc áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế. Việc xây dựng hệ thống trang trại thông minh (áp dụng IoT, AI, cảm biến) hay chuyển đổi sang quy trình canh tác xanh đòi hỏi chi phí lắp đặt, thiết bị và duy trì cao. Tỉnh cũng thiếu hụt lực lượng lao động nông thôn có tay nghề cao để vận hành, phân tích dữ liệu số (Big Data) và quản lý máy móc hiện đại.
Để giải quyết bài toán này, cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất số lượng lớn sang nông nghiệp công nghệ cao, tích hợp công nghệ vào canh tác. Các giải pháp trọng tâm bao gồm xây dựng chuỗi giá trị chuẩn hóa, đào tạo “nông dân số” và thu hút nhân lực chất lượng cao về nông thôn. “Chiến lược chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp đa giá trị tại An Giang là chìa khóa để giải quyết các thách thức, nâng cao chất lượng nông sản và tích hợp các giá trị văn hóa, xã hội vào từng sản phẩm”, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lê Hữu Toàn khẳng định.
Nếu trước đây lợi thế của An Giang nằm ở đất đai, phù sa và sản lượng nông nghiệp thì trong kỷ nguyên số, lợi thế cạnh tranh sẽ được quyết định bởi dữ liệu, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 57-NQ/TW đang mở ra quá trình chuyển đổi từ nền nông nghiệp dựa vào kinh nghiệm sang nền kinh tế dựa trên dữ liệu, nơi AI hiện diện từ cánh đồng, nhà máy, cửa khẩu đến trung tâm hành chính. Tuy nhiên, bài toán lớn hơn công nghệ vẫn là con người: Nhân lực số, dữ liệu mở, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và năng lực tiếp cận của doanh nghiệp nhỏ, nông dân. Giải được những nút thắt này sẽ quyết định việc An Giang có biến Nghị quyết số 57-NQ/TW thành động lực tăng trưởng mới hay không.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, mặc dù sở hữu lực lượng cán bộ kỹ thuật tâm huyết, An Giang vẫn đối mặt với sự khan hiếm chuyên gia cao cấp trong các lĩnh vực mũi nhọn như: IoT trong nông nghiệp chính xác, AI dự báo khí hậu và an toàn thông tin cho hệ thống cửa khẩu số, nhân lực AI còn thiếu... Đây là rào cản chính khi tỉnh muốn nâng cấp mô hình từ nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp số, bền vững. “Đây cũng là những vấn đề mà tỉnh đang xác định cần tập trung tháo gỡ thông qua phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng các “bài toán lớn” về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, lấy dữ liệu làm trung tâm và công nghệ làm công cụ phát triển”, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hồ Văn Mừng nhấn mạnh.
Đơn cử, lúa gạo - một trong những ngành kinh tế chủ lực trong kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, vẫn đối mặt thách thức nếu không đổi mới tư duy. Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn cho rằng: “Nếu chuỗi giá trị được tổ chức lại theo hướng minh bạch hơn, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng hơn, có kỷ luật sản xuất hơn, có vốn lưu động lành mạnh hơn, phải gắn thật chặt với năng lực tổ chức thực thi ở cơ sở”.
Lấy khoa học, công nghệ làm động lực tăng trưởng mới, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hồ Văn Mừng cho biết, tỉnh tập trung triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ gắn với những lĩnh vực thế mạnh như nông nghiệp, du lịch, kinh tế biển và kinh tế biên giới. Tỉnh ưu tiên nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp công nghệ phục vụ quản lý, kiểm soát biên giới, hợp tác với các doanh nghiệp khoa học, công nghệ lớn. Tỉnh đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác quản lý, điều hành; sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu để đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, phục vụ quá trình ra quyết định của chính quyền. Thời gian tới, tỉnh sẽ đưa vào vận hành Trung tâm Đổi mới sáng tạo là đầu mối kết nối nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại địa phương.
Phía sau những kết quả tăng trưởng có không ít điểm nghẽn về nhân lực, dữ liệu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Song, nếu vượt qua được những nút thắt ấy, An Giang sẽ không chỉ là vùng đất của lúa gạo, cá tra và du lịch tâm linh, mà còn có thể trở thành một trung tâm kinh tế số, nông nghiệp thông minh và đổi mới sáng tạo của đồng bằng sông Cửu Long.
(Còn tiếp)
HẠNH CHÂU