Nông sản rớt giá, nông dân An Giang loay hoay tìm đầu ra

11/08/2026 - 14:25

 - Khoai lang, củ cải từng giúp nông dân An Giang nâng hiệu quả trên những vùng đất lúa kém hiệu quả. Tuy nhiên, khi bước vào vụ thu hoạch, giá giảm sâu trong khi chi phí đầu vào tăng khiến nhiều hộ thua lỗ. Thực tế đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tổ chức sản xuất, từ “trồng rồi tìm người mua” sang sản xuất theo nhu cầu thị trường, gắn với liên kết, chế biến và tiêu thụ.

Nông dân xã Long Thạnh thu hoạch khoai lang trong bối cảnh giá nông sản giảm mạnh.

Bán một vụ, mất cả vốn

Những bao khoai lang vừa thu hoạch nằm dọc bờ ruộng ở xã Long Thạnh, nhưng niềm vui mùa vụ lại không hiện trên gương mặt người trồng. Bà Phan Thị Vân, ngụ xã Định Hòa, đã có hơn 6 năm gắn bó với cây khoai lang. Vụ này, gia đình bà thuê 11 công đất tại xã Long Thạnh để canh tác. Khi giá khoai giảm mạnh, gia đình quyết định chậm thu hoạch khoảng 2 tuần, hy vọng thị trường sẽ phục hồi.

Nhưng chờ mãi, giá vẫn không nhích lên. Trong khi khoai đã quá lứa, gia đình bà buộc phải bán với giá chỉ 150.000 - 200.000 đồng/tạ, trong khi chi phí cải tạo đất, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhân công thu hoạch khoảng 220 triệu đồng. “Với giá khoai đó, vụ này gia đình tôi lỗ khoảng 120 triệu đồng”, bà Vân nói.

Ông Nguyễn Văn Nhanh (bìa trái) cho biết vụ khoai này ông lỗ khoảng 75 triệu đồng.

Cách đó không xa, ông Nguyễn Văn Nhanh trồng 15 công khoai lang, năng suất khoảng 50 tạ/công. Với giá bán như hiện nay, ông ước tính vụ này lỗ khoảng 75 triệu đồng.

Theo ông Nhanh, thời điểm này, nhiều vùng trồng khoai tại Vĩnh Long, Tây Ninh, Cần Thơ cùng bước vào thu hoạch rộ, nguồn cung tăng mạnh khiến giá giảm. Đường giao thông vào khu vực sản xuất lại nhỏ hẹp, xe tải không thể vào tận ruộng, nông dân phải qua thêm khâu vận chuyển trung gian.

“Vùng đất này nếu không trồng khoai lang, nông dân chúng tôi cũng không biết trồng loại cây gì. Khoai lang dễ trồng, cho năng suất cao, nhưng giá bấp bênh”, ông Nhanh nói.

Điều ông mong muốn là có doanh nghiệp đầu tư chế biến tại địa phương, gắn với vùng nguyên liệu và ký hợp đồng thu mua ổn định. Theo ông, nếu có mức giá khoảng 400.000 - 450.000 đồng/tạ, người trồng có thể yên tâm sản xuất và tính được hiệu quả ngay từ đầu vụ.

Tình trạng nông sản rớt giá cũng lặp lại ở vùng trồng củ cải phường Vĩnh Thông. Ông Danh Văn Tẩn, ngụ khu phố Phú Hòa, có 10 công đất trồng củ cải cho biết, giá củ cải trắng hiện chỉ còn khoảng 3.000 - 4.000 đồng/kg, có thời điểm thương lái mua tại ruộng chỉ khoảng 2.000 đồng/kg.

Những năm trước, giá củ cải dao động 4.000 - 6.000 đồng/kg. Nay giá giảm trong khi chi phí đầu vào tăng khoảng 30 - 40%. Phân bón, giống, xăng dầu, nhân công đều tăng, có loại phân bón giá tăng gấp đôi so với trước. “Củ cải giá 3.000 đồng là thua rồi, lỗ chắc”, ông Tẩn nói.

Dù được canh tác theo hướng an toàn nhưng củ cải của Hợp tác xã Củ cải Sóc Cung vẫn rất khó bán.

Thời tiết bất lợi càng làm khó người trồng. Nắng nóng gay gắt xen kẽ mưa gió khiến cây củ cải khó phát triển, một số diện tích bị thiệt hại. Người dân từng thử chuyển sang bầu, bí, dưa nhưng điều kiện đất đai không phù hợp nên vẫn phải quay lại cây củ cải.

Chỉ riêng Hợp tác xã Củ cải Sóc Cung ở khu phố Phú Hòa, phường Vĩnh Thông có khoảng 50 ha củ cải được sản xuất, hợp tác với khoảng 8 thành viên. Tuy nhiên, đầu ra chủ yếu vẫn dựa vào thương lái. Một số sản phẩm chế biến như xá bấu đã được thực hiện nhưng quy mô nhỏ, sức tiêu thụ chưa cao. Vì vậy, khi thị trường củ cải tươi giảm giá, người trồng gần như không có thêm lựa chọn để “giữ” nông sản lại chờ giá tốt hơn.

Điểm nghẽn từ liên kết và chế biến

Điểm đáng chú ý là cả khoai lang và củ cải đều không phải là những cây trồng xa lạ với nông dân. Mà đây là những cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, từng mang lại hiệu quả kinh tế khá cao.

Tại xã Long Thạnh, toàn xã có gần 284 ha khoai lang, tập trung tại Hợp tác xã Khoai lang Nguyễn Vũ. Năng suất bình quân khoảng 22 tấn/ha. Những lúc thị trường thuận lợi, giá khoai có thể đạt 9.000 - 12.000 đồng/kg, mang lại lợi nhuận rất cao.

Theo Phó Chủ tịch UBND xã Long Thạnh Nguyễn Nhiệm Toàn, địa phương đang tập trung kết nối các đầu mối thu mua để giải quyết đầu ra cho nông dân. Về lâu dài, xã định hướng phát triển vùng khoai lang theo tiêu chuẩn an toàn, xây dựng sản phẩm OCOP, hỗ trợ hợp tác xã ứng dụng chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và kết nối với doanh nghiệp.

Ông Danh Văn Tẩn mong được liên kết với doanh nghiệp để sản xuất bền vững hơn.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giai đoạn 2021 - 2025, toàn tỉnh đã chuyển đổi hơn 41.600 ha đất trồng lúa sang các loại cây trồng, vật nuôi khác. Quá trình này góp phần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên, sau khi chuyển đổi, quy mô liên kết sản xuất và tiêu thụ vẫn chưa tương xứng. Tỷ lệ diện tích được doanh nghiệp bao tiêu bằng hợp đồng còn thấp; năng lực tổ chức sản xuất của một số hợp tác xã còn hạn chế; khâu sơ chế, bảo quản, chế biến sau thu hoạch và phát triển thị trường còn gặp nhiều khó khăn.

Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ nếu muốn những vùng chuyển đổi thực sự tạo ra giá trị bền vững.

Sản xuất phải bắt đầu từ thị trường

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang Trần Thanh Hiệp cho biết, thời gian tới tỉnh tập trung hình thành các vùng sản xuất phù hợp với lợi thế từng vùng và nhu cầu thị trường; đẩy mạnh phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác và liên kết sản xuất, hướng đến phần lớn diện tích chuyển đổi tập trung được tham gia các hình thức liên kết tiêu thụ.

Liên kết với doanh nghiệp, mở rộng chế biến được kỳ vọng sẽ giúp nông dân ổn định đầu ra, nâng giá trị nông sản.

Cùng với đó là xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, nhật ký điện tử; phát triển sản xuất theo VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn; đầu tư thủy lợi, giao thông, điện, cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến. Mục tiêu không chỉ là tăng sản lượng mà phải nâng cao khả năng tiêu thụ, giá trị sản phẩm và thu nhập của nông dân.

“Muốn thay đổi điều đó, cần chuyển từ tư duy “trồng rồi tìm người mua” sang “xác định thị trường rồi tổ chức sản xuất”. Doanh nghiệp phải tham gia từ đầu vào, tiêu chuẩn, kỹ thuật đến bao tiêu; hợp tác xã phải đủ sức tập hợp nông dân, kiểm soát chất lượng và đàm phán; còn hạ tầng giao thông, kho bảo quản, cơ sở chế biến phải đi cùng vùng nguyên liệu”, ông Hiệp nhấn mạnh.

Bài và ảnh: AN LÂM