Phải có nền tảng công nghệ chống dịch thống nhất, liên thông toàn quốc

04/08/2021 - 08:26

Bộ TT&TT và các Sở đồng quan điểm phải có một số nền tảng CNTT thống nhất, liên thông của quốc gia, để phục vụ tốt nhất công tác phòng dịch COVID-19.

A A

Bộ TT&TT hôm 3/8 đã tổ chức Hội nghị trực tuyến Phổ biến kinh nghiệm triển khai các nền tảng công nghệ phòng, chống dịch COVID-19 trên phạm vi toàn quốc. Một số địa phương đã đạt thành quả nhất định trong ứng dụng công nghệ vào công tác chống dịch. Hội nghị tán thành việc phải có các nền tảng dùng chung để tập trung dữ liệu, thống nhất trong quản lý.

Quang cảnh buổi họp tại đầu cầu TP.HCM.

Bắt buộc phải triển khai một số nền tảng thống nhất trên toàn quốc

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh 3 yếu tố quan trọng trong việc sử dụng công nghệ trong phòng chống dịch bệnh: Công nghệ là công cụ không thể thiếu trong chống dịch, tiếp tục sử dụng và hoàn thiện các nền tảng, cần có một số nền tảng công nghệ liên thông cả nước.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng khẳng định, với sức lây lan nhanh của chủng Delta, chắc chắn công nghệ là công cụ không thể thiếu nếu muốn chống dịch hiệu quả.

Bộ Y tế, Bộ TT&TT đã thống nhất, đồng lòng, cùng triển khai Trung tâm công nghệ quốc gia phòng, chống dịch COVID-19. Vì vậy, ở địa phương, Thứ trưởng đề nghị Sở Y tế, Sở TT&TT nhanh chóng tham mưu, đề xuất các tỉnh phân công một đồng chí lãnh đạo tỉnh trực tiếp chỉ đạo triển khai công nghệ, thành lập Tổ công nghệ do Sở Y tế, Sở TT&TT đồng chủ trì.

Đặc biệt, nếu có thể thành lập được các Tổ công nghệ cộng đồng đến tận phường, xã để hỗ trợ triển khai với sự tham gia của lực lượng thanh niên, của các doanh nghiệp thì sẽ rất hiệu quả.

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng phát biểu tại hội nghị.

Thứ hai, công nghệ không bao giờ là lời giải duy nhất. Tự thân nó, công nghệ không thể giải quyết vấn đề. Công nghệ phải kết hợp với các biện pháp quản lý hành chính, biện pháp nghiệp vụ khác mới trở thành một giải pháp trọn vẹn.

Công nghệ, cũng giống như mọi công cụ khác, đều có khiếm khuyết, đều có lỗi. Một mặt, cần liên tục sử dụng, liên tục ghi nhận lỗi, liên tục phản ánh lỗi, liên tục cập nhật, sửa lỗi. Mặt khác, phải phổ biến những kinh nghiệm, bài học, kết quả triển khai hiệu quả để vững tin đi tiếp.

Đó là một số kết quả tốt về triển khai Nền tảng tiêm chủng, Nền tảng hỗ trợ lấy mẫu và trả kết quả xét nghiệm và Nền tảng hỗ trợ truy vết.

Thứ ba, công nghệ phải có sự bắt buộc, phải có sự triển khai thống nhất trên toàn quốc. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa thời bình và thời chiến. Ở thời bình có thể triển khai theo cách đa dạng ứng dụng, theo hướng liên thông dữ liệu. Nhưng ở thời chiến, bắt buộc phải triển khai một số nền tảng thống nhất trên toàn quốc.

Vì dịch bệnh là toàn quốc, người dân ở TP. Hồ Chí Minh có thể di chuyển xuống Bình Dương hoặc ngược lại, nên phải có dữ liệu toàn quốc. Và vì dịch bệnh diễn biến rất nhanh, không có thời gian để bàn bạc chuyện liên thông.

Trung tâm Công nghệ quốc gia đã phát triển một bộ công cụ để phục vụ phòng, chống dịch. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 78, Bộ Y tế, Bộ TT&TT đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cụ thể. Trung tâm Công nghệ phòng, chống dịch quốc gia đã biên soạn tài liệu hướng dẫn chi tiết, đã gửi đến tất cả các đầu mối.

Vì vậy, Thứ trưởng đề nghị các sở căn cứ vào văn bản này để tham mưu cho UBND tỉnh ban hành đầy đủ các văn bản chỉ đạo ở địa phương mình.

Báo cáo tại hội thảo, các địa phương như TP.HCM, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bắc Giang cho biết, đã triển khai một số nền tảng công nghệ phục vụ công tác chống dịch. Việc áp dụng công nghệ giúp dữ liệu được số hoá và tập trung, đồng thời giảm tải cho lực lượng tham gia chống dịch.

Nền tảng tiêm chủng giúp TP.HCM đẩy nhanh tiến độ tiêm

Tại TP.HCM, bà Võ Thị Trung Trinh - Phó giám đốc sở TT&TT - cho biết, kể từ đợt tiêm chủng thứ 5, thành phố đã triển khai lấy danh sách người tiêm chủng thông qua đăng ký trên hệ thống. Sở TT&TT đã cấp khoảng 10 ngàn tài khoản cho các tổ chức để nhập vào thông tin những người được ưu tiên tiêm theo chỉ đạo của thành phố. 

Trên hệ thống ghi nhận 1.843.000 trường hợp đã đăng ký. Đây là dữ liệu ban đầu để Sở phối hợp với Bộ TT&TT, đưa cơ sở dữ liệu này vào hệ thống đăng ký quốc gia. Và từ dữ liệu này triển khai phần mềm quản lý tiêm chủng trên toàn thành phố.

Bà Võ Thị Trung Trinh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp với đoàn công tác của Bộ TT&TT tại TP.HCM, cùng với phía Viettel, nhằm thống nhất các phương án triển khai ứng dụng CNTT, xử lý các tình huống phát sinh xảy ra trên địa bàn.

Đoàn công tác cũng hỗ trợ TP.HCM trong việc chuẩn hoá dữ liệu đăng ký tiêm chủng bằng phần mềm và nhận kết quả hàng ngày. Điều này giúp bên phát triển phần mềm lắng nghe ý kiến người sử dụng, bao gồm người dân và tổ chức, để hoàn thiện hệ thống.

Phó giám đốc Sở TT&TT TP.HCM Võ Thị Trung Trinh phát biểu qua cầu truyền hình.

Sở TT&TT cùng với đoàn công tác đã cùng làm việc với lãnh đạo từng quận, huyện, nhằm tháo gỡ các khó khăn trong quá trình triển khai phần mềm, và có báo cáo thường xuyên với thường trực UBND TP để có chỉ đạo kịp thời. 

Chiến dịch tiêm lần thứ 5 của TP.HCM bắt đầu từ 20/7 và kết thúc hôm 2/8. Thành phố hoàn thành tiêm cho khoảng hơn 920 ngàn người, đã đưa vào hệ thống được hơn 630 ngàn người đã tiêm chủng.

Đối với các đơn vị đã sẵn sàng sử dụng công nghệ, Sở TT&TT cho áp dụng toàn bộ quy trình. Với các đơn vị chưa sẵn sàng, Sở có phương án hỗ trợ để đưa dữ liệu lên hệ thống sau một ngày tiêm. Việc này nhằm thực hiện cuốn chiếu việc đưa cơ sở dữ liệu của thành phố vào hệ thống quốc gia.

Một phần nhờ áp dụng CNTT trong công tác tiêm chủng, những ngày cuối của đợt thứ 5 thành phố đã nâng cao năng lực tiêm lên nhiều lần, có ngày lên hơn 120 ngàn người được tiêm, so với những ngày đầu chỉ vài ngàn.

TP.HCM đang đặt mục tiêu tiêm chủng cho 70% người sinh sống trên địa bàn. Để đạt được điều này, thành phố đang lập danh sách tiêm thông qua đăng ký trên cổng tiêm chủng quốc gia và ứng dụng Sổ sức khoẻ điện tử của Bộ Y tế. Hiện có khoảng 1,7 triệu người đã đăng ký tiêm trên cổng tiêm chủng quốc gia.

Ngoài ra, nhờ cơ sở dữ liệu tiêm chủng thu thập được, Sở TT&TT tham mưu cho thành phố trong việc xác định các điểm nóng, các đối tượng ưu tiên cần được tiêm chủng. Ví dụ các ổ dịch, các ngành nghề thành phố muốn duy trì trong thời gian phòng dịch (như tài xế vận chuyển hàng hoá thiết yếu, vận chuyển bệnh nhân,...). Nhờ xác định được ưu tiên, thành phố có thể lọc ra vài chục ngàn người trong danh sách đăng ký để tiêm chủng ngay trong vài ngày.

Để hoàn thành mục tiêu tiêm chủng cho khoảng 5 triệu người trong khoảng thời gian một tháng sắp tới, Phó giám đốc Sở TT-TT TP.HCM khẳng định đây là nhiệm vụ rất khó khăn. Do đó, Sở TT&TT sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với đoàn công tác Bộ TT&TT trong đợt triển khai lần này.

Để hoàn thành nhanh việc tiêm chủng, bà Võ Thị Trung Trinh kiến nghị Bộ TT&TT phối hợp Bộ Y tế để giảm tải thủ tục, kết hợp với việc đơn giản hoá phần mềm để giúp giảm thời gian tiêm chủng, tăng sự linh hoạt khi tiêm chủng cho nhiều đối tượng khác nhau.

Đẩy mạnh triển khai Bluezone để tiết kiệm thời gian lấy mẫu

Trong quá trình lấy mẫu xét nghiệm COVID-19, Bà Rịa - Vũng Tàu đã thí điểm dùng Bluezone trong việc tiếp nhận người dân tại địa điểm lấy mẫu.

Ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Sở TT&TT tỉnh cho biết, ở giai đoạn đầu, dữ liệu của người đến lấy mẫu được viết bằng tay, sau đó đến cuối ngày nhập vào file Excel trên máy tính để gửi qua Trung tâm kiểm soát dịch bệnh của tỉnh. Việc này khá mất thời gian. Có trường hợp mẫu dịch bệnh đã tới CDC tỉnh nhưng danh sách người dân chưa chuyển tới, dẫn đến việc trì trệ trong công tác xét nghiệm.

Để đẩy nhanh việc này, Sở TT&TT thí điểm triển khai quét mã QR của người đã khai báo trên ứng dụng Bluezone trước khi đến lấy mẫu. Do người dân đã khai báo thông tin từ trước trên Bluezone, khi đến địa điểm lấy mẫu chỉ cần đưa QR Code của mình để tình nguyện viên quét mã xác nhận, sau đó đến khu vực lấy mẫu.

Theo tính toán của ông Tuấn, người dân dùng Bluezone kể từ khi quét mã đến khi hoàn thành lấy mẫu chỉ mất thời gian chưa đến 1 phút. Cuối ngày có kết quả trả về qua ứng dụng.

Việc dùng Bluezone để xác nhận người lấy mẫu, theo ông Tuấn, giúp tận dụng nguồn dữ liệu có sẵn của nền tảng này. Việc triển khai cũng dễ dàng do phần mềm quét QR chỉ cần cài trên điện thoại hoặc máy tính của tình nguyện viên. Cuối cùng, dữ liệu tập trung nên rất dễ cho công tác quản lý.

Những kết quả nổi bật của Bà Rịa - Vũng Tàu trong việc dùng Bluezone trong khâu tiếp nhận người dân đến lấy mẫu xét nghiệm.

Theo kinh nghiệm của Bà Rịa - Vũng Tàu, cần truyền thông mạnh mẽ, có thể dùng loa phường, để khuyến khích người dân cài đặt và khai báo thông tin trên Bluezone trước khi đến điểm lấy mẫu xét nghiệm.

Ngoài ra, sẽ có khoảng 15-16% người khai báo dữ liệu trên Bluezone không khớp với thông tin người đến lấy mẫu. Do đó, cần yêu cầu người đến lấy mẫu phải cầm theo tờ khai để đối chiếu thông tin.

Bắc Giang: Mỗi nhà xưởng, tiệm tạp hoá, xe buýt… là một điểm khai báo y tế

Bắc Giang, một địa phương từng là điểm nóng COVID của cả nước, đã sử dụng các điểm check-in khai báo y tế để khoanh vùng các khu công nghiệp, các địa điểm có nguy cơ lây nhiễm.

Ông Nguyễn Gia Phong, Phó giám đốc Sở TT-TT Bắc Giang cho biết, trong giai đoạn tỉnh này bùng phát dịch bệnh, đoàn công tác của Bộ Y tế tại đây đã tư vấn khoanh vùng công nhân ở khu công nghiệp để dập dịch.

Điểm họp ở đầu cầu Bắc Giang.

Trước đây, việc khai báo y tế của công nhân được thực hiện bằng tay nên công cuộc thống kê rất khó khăn. Sau đó, phía Bộ TT&TT đề xuất tỉnh tăng cường ứng dụng CNTT trong khai báo y tế, làm sao càng nhiều người khai báo càng tốt. Việc này đảm bảo nắm thông tin nhanh nhất các khu vực, đối tượng có nguy cơ lây nhiễm để khoanh vùng.

Sau đó, tỉnh đã ban hành chỉ thị yêu cầu người dân cài đặt phần mềm khai báo y tế. Từ đó, giao các địa phương phải hoàn thành chỉ tiêu số lượng người cài đặt ứng dụng. Chẳng hạn, khu vực thành phố, thị xã được giao tỷ lệ 60% người dân cài đặt các ứng dụng như VHD, Bluezone, Ncovi; các khu vực khác từ 50-55%.

Tỉnh cũng ban hành chỉ đạo, yêu cầu 100% công sở, nhà hàng khách sạn, xe ô tô chở công nhân... phải trở thành điểm check-in khai báo.

Tại các địa điểm này sẽ có mã QR để người dân quét và khai báo y tế. Trong trường hợp người dân không có smartphone thì phải có thẻ bảo hiểm y tế hoặc mã QR cứng được in ra, trình tại các điểm check-in để được quét. 

Tỉnh giao chỉ tiêu cho từng điểm check-in, làm sao số lượng check-in tại mỗi điểm tăng lên mỗi ngày để bảo đảm việc khoanh vùng và truy vết khi có dịch xảy ra.

Ngoài ra, Bắc Giang cũng đang triển khai phần mềm lấy mẫu xét nghiệm bằng barcode trên Bluezone. Mỗi người dân cài Bluezone đều được cấp một barcode để dán trên ống nghiệm lấy mẫu. Khi máy quét trên barcode sẽ ra thông tin của người được xét nghiệm. Kết hợp với QR Code của người dân sẽ trả về kết quả nhanh và đầy đủ dữ liệu hơn.

Phó giám đốc Sở TT&TT Bắc Giang đề xuất Bộ TT&TT phối hợp với Bộ GTVT và Bộ Y tế để liên thông mã QR đang dùng hiện nay. Do mã QR của Bluezone đang không liên thông với mã QR mà Bộ GTVT đang cấp cho tài xế xe tải. 

Đồng thời, trong phần mềm khai báo y tế nên có thêm kết quả xét nghiệm. Nghĩa là, nên liên thông phần mềm tiêm chủng, xét nghiệm với Bluezone để thuận tiện, thống nhất trong việc quản lý.

Ông Đỗ Công Anh, Cục trưởng Cục Tin học hoá (Bộ TT&TT) phát biểu bế mạc hội thảo.

Phát biểu bế mạc hội thảo, ông Đỗ Công Anh - Cục trưởng Cục Tin học hoá (Bộ TT&TT) đánh giá cao các kết quả đạt được của các địa phương trong việc ứng dụng CNTT vào công tác phòng dịch. Qua công tác hỗ trợ, đại diện Bộ TT&TT nhận thấy mỗi địa phương có một nhu cầu khác nhau, tuỳ theo tình hình mỗi nơi. Chẳng hạn, có tỉnh cẩn nền tảng tiêm chủng, có nơi cần truy vết, có địa phương cần mã QR để khoanh vùng dập dịch. Bộ TT&TT cam kết hỗ trợ các địa phương trong quá trình tận dụng CNTT phục vụ đời sống người dân, phục vụ công cuộc chống dịch rất bức thiết hiện tại.

Theo HẢI ĐĂNG (Vietnamnet)