Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với tăng trưởng bền vững

30/01/2026 - 08:15

Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu giải quyết hài hòa quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, coi đây là trụ cột phát triển bền vững.

Đồng bào các dân tộc tham dự điệu múa xòe. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Đồng bào các dân tộc tham dự điệu múa xòe. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy sức mạnh mềm của văn hóa dân tộc, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, coi đây là những trụ cột nền tảng của phát triển bền vững.

Theo nhiều chuyên gia văn hóa, quan điểm xuyên suốt của Đảng là không chạy theo tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà hướng tới mô hình phát triển toàn diện, lấy con người làm trung tâm; vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa phát triển văn hóa

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Duy Đức, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, giữ gìn bản sắc không đồng nghĩa với bảo thủ, mà là biết chắt lọc những giá trị cốt lõi như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân ái, khoan dung, hiếu học, cần cù, sáng tạo…để làm nền tảng cho sự phát triển trong bối cảnh hiện đại.

Khi các giá trị ấy được đặt trong dòng chảy của đời sống đương đại, chúng không bị cũ đi, mà ngược lại, trở nên sống động và có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn.

Để tránh nguy cơ “hòa tan,” Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Duy Đức cho rằng cần chủ động đưa giá trị truyền thống vào các hình thức biểu đạt hiện đại, đặc biệt thông qua các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo.

vna-potal-ngay-hoi-non-song-thong-nhat-cua-dong-bao-cac-dan-toc-tai-lang-van-hoa-du-lich-cac-dan-toc-viet-nam-6707626.jpg

Trình diễn múa ngựa giấy của người dân tộc Nùng Dín (Mường Khương, Lào Cai). (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, trò chơi điện tử, nội dung số, du lịch văn hóa…chính là những “kênh dẫn” hiệu quả để kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ mà thế giới có thể hiểu và đồng cảm. Khi giá trị truyền thống được chuyển hóa thành sản phẩm văn hóa hấp dẫn, có tính thẩm mỹ và giá trị kinh tế, chúng không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành một phần của thị trường văn hóa toàn cầu.

Việc xây dựng “thương hiệu nhân diện” của con người Việt Nam cần được thực hiện một cách đồng bộ từ giáo dục, truyền thông đến chính sách văn hóa. Giáo dục phải giúp mỗi người Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu rõ mình là ai, đến từ đâu và mang theo những giá trị gì khi hội nhập quốc tế.

Truyền thông cần lan tỏa những hình ảnh tích cực, hiện đại nhưng đậm đà bản sắc của con người Việt Nam: Năng động mà nhân văn, hội nhập mà không đánh mất cội nguồn. Chính sách văn hóa cần khuyến khích sáng tạo trên nền tảng truyền thống, tôn vinh những giá trị Việt được làm mới một cách sáng tạo và có sức sống trong đời sống đương đại.

Để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Duy Đức, Nhà nước cần có những cơ chế mang tính đột phá, đồng bộ và lâu dài, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy và hệ tiêu chí đánh giá phát triển.

Bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế truyền thống như GDP, thu ngân sách, đầu tư… , Nhà nước cần bổ sung và coi trọng các chỉ số phản ánh chất lượng phát triển như mức hưởng thụ văn hóa của người dân, chỉ số phát triển con người, mức độ công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, mức độ hài lòng của người dân.

Đồng thời, cần xây dựng cơ chế lồng ghép mục tiêu văn hóa và xã hội ngay trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách kinh tế. Mọi chiến lược, quy hoạch, dự án phát triển kinh tế, đặc biệt là các dự án lớn, phải được xem xét đồng thời về tác động văn hóa, xã hội và môi trường. Văn hóa không đứng bên lề phát triển, mà phải trở thành một tiêu chí, một điều kiện và một động lực của tăng trưởng.

“Khi tăng trưởng kinh tế được đặt trong khuôn khổ của phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội, chúng ta không chỉ tránh được tình trạng tăng trưởng bằng mọi giá, mà còn tạo dựng được nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của đất nước,” Phó Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Duy Đức nói.

Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa - động lực tăng trưởng mới

Trong bối cảnh chuyển đổi số và toàn cầu hóa sâu rộng hiện nay, việc xuất khẩu văn hóa thông qua các nền tảng xuyên biên giới đang mở ra cho Việt Nam những cơ hội rất lớn để đưa văn hóa trở thành một mặt hàng chiến lược, đóng góp trực tiếp vào GDP theo mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

Theo Nhà thơ Đinh Thường, Hội Nhà văn Hải Phòng, Việt Nam có lợi thế đặc biệt về nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, đa dạng và giàu bản sắc, được hình thành và bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử.

trinh-dien-anh-sang-1766628473726-17666284739361162444346.jpg

Chiếu sáng nghệ thuật trong không gian Hồ Gươm–Tháp Rùa. (Ảnh: BTC)

Từ di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thời trang, ẩm thực cho đến lối sống, phong tục, tập quán, tất cả đều chứa đựng những giá trị độc đáo, có khả năng chuyển hóa thành sản phẩm công nghiệp văn hóa hấp dẫn đối với thị trường quốc tế.

Trong xu thế toàn cầu ngày càng đề cao sự khác biệt và tính bản địa, chính bản sắc văn hóa Việt Nam là “nguyên liệu đầu vào” quý giá cho hoạt động xuất khẩu văn hóa.

Sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng xuyên biên giới như mạng xã hội, nền tảng phát trực tuyến, thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến, nền tảng nội dung số…đã làm thay đổi căn bản phương thức lan tỏa và tiêu dùng văn hóa.

Nhà thơ Đinh Thường phân tích nếu trước đây, việc đưa sản phẩm văn hóa ra thế giới phụ thuộc nhiều vào các kênh truyền thống, chi phí lớn và rào cản cao, thì nay, với nền tảng số, các sản phẩm văn hóa Việt Nam có thể tiếp cận trực tiếp hàng triệu người dùng toàn cầu với chi phí thấp, tốc độ nhanh và khả năng cá nhân hóa cao.

Đây là cơ hội mang tính đột phá để các ngành như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế sáng tạo, nội dung số, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa… vươn ra thị trường quốc tế.

Nhà thơ Đinh Thường nhìn nhận hiện Việt Nam đang sở hữu lực lượng lao động trẻ, sáng tạo, năng động, có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ mới và xu hướng toàn cầu.

Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển các sản phẩm văn hóa-sáng tạo vừa mang bản sắc dân tộc, vừa có ngôn ngữ quốc tế. Khi được hỗ trợ bởi thể chế, chính sách phù hợp và môi trường sáng tạo lành mạnh, đội ngũ này có thể trở thành lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng các thương hiệu văn hóa Việt Nam trên không gian số toàn cầu.

Việc xuất khẩu văn hóa không chỉ mang lại giá trị kinh tế trực tiếp, mà còn góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh quốc gia, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực cho các ngành khác như du lịch, thương mại, đầu tư, ngoại giao.

Văn hóa, khi được tổ chức và vận hành theo logic của công nghiệp văn hóa, sẽ trở thành “sức mạnh mềm” quan trọng, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, vừa củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, đúng với tinh thần phát triển bền vững mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh.

“Vấn đề cốt lõi là cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho các ngành công nghiệp văn hóa; khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ bản quyền, xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia; qua đó từng bước biến văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một mặt hàng chiến lược đóng góp trực tiếp và ngày càng quan trọng vào GDP như mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra,” Nhà thơ Đinh Thường khẳng định.

Theo Vietnamplus