Phân tích bảng cân đối liên ngành (I.O) từ dữ liệu năm 2012 và 2019, chuyên gia kinh tế Bùi Trinh chỉ rõ: Tuy chỉ số lan tỏa đến sản lượng của khu vực dịch vụ chỉ đạt 0,94 vào năm 2019 (thấp hơn mức trung bình), nhưng chỉ số lan tỏa đến giá trị gia tăng lại đạt 1,15 - cao nhất trong 7 nhóm ngành chính của nền kinh tế. Cụ thể, ngành thương mại thể hiện vai trò quan trọng với chỉ số lan tỏa giá trị gia tăng tăng từ 0,8 năm 2012 lên 1,18 năm 2019, đồng thời giảm đáng kể sự phụ thuộc vào nhập khẩu (từ 1,44 xuống 0,48). Những con số này phản ánh sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu hàng hóa lưu thông, với tỷ trọng sản phẩm nội địa tăng lên. Trong khi đó, ngành tài chính - ngân hàng duy trì vị thế vững chắc với chỉ số lan tỏa giá trị gia tăng cao (1,25 năm 2019) và lan tỏa đến nhập khẩu rất thấp (0,28), khẳng định vai trò then chốt của dịch vụ tài chính trong việc tạo thu nhập nội địa. Đặc biệt, chỉ số lan tỏa đến nhập khẩu của dịch vụ chỉ ở mức 0,64 - thấp nhất so với các ngành khác.
Trung tâm tài chính quốc tế sẽ đưa Việt Nam trở thành một trung tâm dịch vụ chất lượng cao. ẢNH: NHẬT THỊNH
"Kết quả tính toán cho thấy lan tỏa của cầu cuối cùng đến giá trị sản xuất của nhóm ngành dịch vụ không cao bằng nhóm ngành công nghiệp, nhưng phần giá trị thực sự ở lại trong nước mà ta vẫn hay gọi là giá trị gia tăng lại lớn hơn đáng kể, đồng thời ít bị "rò rỉ, thất thoát" ra nước ngoài qua kênh nhập khẩu. Đây chính là điều mà một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam cần để tạo bước đột phá: Tăng trưởng thực chất, không phải tăng trưởng "ảo" dựa vào gia công lắp ráp", ông Bùi Trinh nhận định.
|
Cộng hưởng sức mạnh cạnh tranh mới cho hàng hải Việt Nam Có thể thấy, từ Chính phủ, các bộ, ngành cho tới các địa phương đều đã và đang quyết tâm hoàn thiện hạ tầng đồng bộ cả phần "cứng" lẫn phần "mềm" để thật sự tiến ra biển lớn, đưa kinh tế biển trở thành trụ cột của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là những cơ sở để các DN như chúng tôi tự tin đầu tư, cống hiến. Chúng tôi kỳ vọng những quyết sách của Đảng, những nghị quyết của Chính phủ và những kế hoạch, đề án cụ thể của từng địa phương sẽ tiếp tục được hiện thực hóa trong giai đoạn tới. Riêng ngành hàng hải sẽ tiếp tục được quan tâm đồng bộ hạ tầng cứng, cải thiện hạ tầng mềm thông qua hệ thống luật, tư vấn pháp lý… để cùng cộng hưởng tạo sức mạnh cạnh tranh mới trên trường quốc tế. Ông Phạm Quốc Long, Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, môi giới và dịch vụ hàng hải Việt Nam |
Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) phân tích trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam, ngành dịch vụ đã chuyển dịch mạnh mẽ với tỷ trọng ngày càng lớn hơn, song, nhiều lĩnh vực dịch vụ chưa phát triển mạnh và còn nhiều dư địa, tiềm năng tăng trưởng. Đơn cử, lợi thế để chúng ta phát triển dịch vụ trung chuyển, hàng không, cảng biển và logistics là rất rõ. Việt Nam nằm trên trục giao thương Đông - Tây, gần các tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp, cửa ngõ xuất khẩu của một vùng sản xuất lớn ở Đông Nam Á. Hệ thống cảng nước sâu như Cái Mép - Thị Vải đã có thể tiếp nhận tàu mẹ đi thẳng đến châu Âu, Mỹ, nhưng giá trị gia tăng tạo ra tại chỗ vẫn còn hạn chế vì dịch vụ hậu cần, phân phối và quản trị chuỗi cung ứng chưa phát triển tương xứng. Hệ quả là chi phí logistics của Việt Nam còn cao so với các nước trong khu vực, phản ánh điểm nghẽn ở kết nối đa phương thức, thủ tục và mức độ số hóa.
Mặt khác, khu vực dịch vụ hiện chiếm khoảng 43% GDP của nền kinh tế nên chỉ cần nhóm dịch vụ chất lượng cao như logistics, tài chính, du lịch cao cấp tăng nhanh hơn mặt bằng chung 1-2 điểm phần trăm mỗi năm, thì tăng trưởng GDP tổng thể có thể được kéo lên thêm gần 1 điểm phần trăm. Quan trọng hơn, đây là tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và chuỗi giá trị, qua đó tạo lực kéo ngược cho công nghiệp và nông nghiệp cùng nâng cấp.
Việt Nam có tiềm năng lớn trở thành trung tâm dịch vụ cảng biển trong khu vực. ẢNH: ĐỘC LẬP
"Sức đẩy của logistics có thể kéo ngành công nghiệp lên nếu hệ thống cảng - kho - vận tải - hải quan được số hóa và vận hành theo chuẩn 3PL/4PL; một nhà máy điện tử hoặc dệt may có thể chuyển sang mô hình
"just-in-time", rút ngắn vòng quay vốn, giảm tồn kho 20-30%, từ đó tăng năng suất trên mỗi đồng vốn và mỗi lao động. Còn đối với nông nghiệp, khi logistics lạnh, trung tâm phân loại, kiểm định và phân phối quốc tế phát triển, nông sản không còn bán theo kiểu thô, phụ thuộc thương lái. Trái cây hoặc thủy sản nếu được kết nối trực tiếp với chuỗi logistics hàng không và hệ thống truy xuất nguồn gốc số, có thể xuất khẩu thẳng vào thị trường cao cấp, giá bán tăng lên rõ rệt dù sản lượng không đổi. Vì thế, để đạt mục tiêu trở thành nền kinh tế phát triển, các ngành dịch vụ đóng góp giá trị cao cần được tập trung thúc đẩy trở thành động lực tăng trưởng chính", chuyên gia Trần Anh Tùng nhấn mạnh.
Tiềm năng từ cảng trung chuyển và trung tâm tài chính quốc tế
Không chỉ tái định vị ngành dịch vụ nội địa để gia tăng đóng góp vào tăng trưởng chung của đất nước, Việt Nam còn có tiềm năng trở thành trung tâm dịch vụ của khu vực. Theo ông Phạm Quốc Long, Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, môi giới và dịch vụ hàng hải Việt Nam, chúng ta có những lợi thế vượt trội. Đơn cử TP.HCM có cụm cảng địa thế tốt hơn cả Singapore, Hồng Kông hay Thái Lan. Tuy nhiên, hiện trạng các cảng biển tại TP.HCM nói riêng cũng như cả nước nói chung đang chỉ thực hiện nhiệm vụ bốc dỡ đơn thuần. Trong khi đó, mỗi con tàu cập cảng cần rất nhiều dịch vụ kèm theo, như cung cấp dầu, sửa chữa, thay đổi thuyền viên…
"Singapore, Hồng Kông khi mới tập trung phát triển cảng biển thì họ không có nhiều tài nguyên, hàng hóa cũng không nhiều. Tuy nhiên, nhờ xây dựng được chuỗi dịch vụ liên thông từ cung ứng nhiên liệu, đổi thuyền viên, kết hợp du lịch, khám chữa bệnh… mà đã tạo dựng vị thế trung tâm hàng hải như hiện nay, mang về giá trị cực lớn. Riêng PSA - khu cảng hàng hải trung tâm của Singapore, đã chiếm 7% GDP trực tiếp và 3% giá trị dịch vụ của quốc gia này. Đây là mảnh đất màu mỡ mà các cảng của Việt Nam cần khai phá", ông Phạm Quốc Long dẫn chứng.
Phát triển các ngành dịch vụ sẽ giúp hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh cho tất cả các ngành kinh tế. ẢNH: BÁ HÙNG
Ông Long đánh giá hiện nay ngành logistics nói chung và hàng hải nói riêng của Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những cơ hội rất lớn. Về khách quan, khi tình hình địa chính trị trên thế giới diễn biến phức tạp thì Việt Nam đã tận dụng rất tốt thời cơ để gầy dựng vị thế, đủ sức điền vào mảng cung ứng bị gãy. Về chủ quan, công cuộc "sắp xếp lại giang sơn", vận hành chính quyền 2 cấp đã nâng cao năng lực cạnh tranh của từng địa phương cũng như của cả quốc gia. Hệ thống cảng biển lớn, cảng nước sâu được định hướng phát triển tại trung tâm cả ba miền Bắc, Trung, Nam, gắn với hình thành các khu thương mại tự do và trung tâm tài chính, mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp (DN) sản xuất, chế xuất, xuất khẩu, logistics, hàng hải… phát triển mạnh mẽ. Cùng với đó, từng địa phương đang dồn lực phát triển hệ thống cảng biển đồng bộ với hạ tầng giao thông kết nối; dần nâng cấp hạ tầng đường thủy nội địa kết nối tới các trung tâm hàng hải của cả nước. Đồng thời, chính quyền 2 cấp được triển khai giúp tháo bỏ nhiều rào cản, mở cửa cho các DN mạnh mẽ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như tăng trưởng hàng hóa sản xuất khu vực nội địa.
Đặc biệt, việc ra mắt Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam với Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM đặt mục tiêu hướng đến Top 50 trong bảng xếp hạng Chỉ số Trung tâm Tài chính toàn cầu (GFCI). Theo bảng xếp hạng GFCI lần thứ 38 công bố cuối năm 2025, vị trí của TP.HCM đã tăng mạnh, xếp thứ 95 trên 120 thành phố. PGS-TS Trần Hoàng Ngân, chuyên gia kinh tế, đại biểu Quốc hội, nhấn mạnh: Trong giai đoạn phát triển mạnh để hướng đến nước có thu nhập cao, nguồn vốn là nhân tố rất quan trọng, có thể quyết định khoảng 40% tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Dịch vụ tài chính thường được xem là lĩnh vực dịch vụ cao cấp trong một nền kinh tế. Trung tâm tài chính quốc tế ra đời giúp Việt Nam có cơ hội thu hút những tổ chức, định chế tài chính lớn trên thế giới có thể trở thành thành viên hoạt động tại đây. Từ đó sẽ tạo ra thị trường vốn có chi phí hợp lý, thấp nhất có thể và đặc biệt là dòng vốn ngoại tệ để thúc đẩy các dự án lớn của Việt Nam hoàn thành đúng tiến độ, mang lại hiệu quả cho nền kinh tế. Đồng thời, Trung tâm tài chính quốc tế còn là nơi thu hút các DN khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực Fintech và công nghệ cao. Từ đó nền kinh tế cũng có thêm lực kéo mới, chưa kể hàng loạt hệ sinh thái, dịch vụ thương mại xung quanh cũng như môi trường đầu tư của Việt Nam sẽ thay đổi theo hướng nâng cấp chất lượng hơn.
Tạo ra hệ sinh thái toàn diện để kinh tế tăng tốc
TS Nguyễn Quốc Việt (Trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội), phân tích: Việt Nam đã xác định mô hình tăng trưởng mới trong nhiều năm tới theo hướng trình độ chuyên sâu, phát triển nhanh nhưng bền vững. Không chỉ thúc đẩy các ngành công nghiệp, chế biến chế tạo phát triển theo chiều sâu mà dịch vụ cũng phải ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn. Ngành dịch vụ nói chung sẽ liên quan đến tất cả các lĩnh vực, tạo thành một hệ sinh thái bền vững. Chẳng hạn, Việt Nam xuất siêu hàng hóa nhưng vẫn thâm hụt về thương mại dịch vụ là do thời gian qua nhiều dịch vụ liên quan về xuất nhập khẩu phụ thuộc vào các đơn vị nước ngoài. Hay trong lĩnh vực nông nghiệp, để gia tăng giá trị của ngành và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế, hướng đến sản xuất xanh, chống biến đổi khí hậu thì phải phát triển các dịch vụ đi kèm. Đó là dịch vụ về truy cập xuất xứ hàng hóa, kiểm dịch, chế biến để tạo thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Khi đó nông sản Việt Nam nói chung mới có thể nâng cao sức cạnh tranh cả trên thị trường nội địa lẫn quốc tế. Một lĩnh vực nữa là thương mại, phân phối hàng hóa nếu không có khâu dịch vụ đi kèm thì cũng dễ bị hệ thống phân phối nước ngoài lấn sân. Thậm chí, Việt Nam đang thúc đẩy phát triển kinh tế số thì bản chất đây cũng là dịch vụ số gắn với việc sản xuất các sản phẩm công nghệ như phần mềm, AI… Từ đó mới tạo ra một ngành kinh tế số phát triển.
|
Định vị ngành dịch vụ thành trọng điểm quốc gia Để khu vực dịch vụ phát huy hết sức mạnh, đầu tiên cần tái định vị nhóm ngành dịch vụ thành ngành trọng điểm quốc gia, không chỉ dựa trên tỷ trọng GDP mà còn dựa trên hiệu quả tạo giá trị gia tăng nội địa và khả năng giữ nguồn lực trong nước. Đặc biệt, ưu tiên phát triển các phân ngành dịch vụ có hiệu quả lan tỏa cao như tài chính - ngân hàng, thương mại và khách sạn - nhà hàng. Một điểm quan trọng là cần đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, đặc biệt là du lịch thông qua khu vực khách sạn - nhà hàng, vận tải và dịch vụ số. Cuối cùng là cải thiện năng lực dịch vụ vận tải và bảo hiểm để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Chuyên gia kinh tế, TS Bùi Trinh |
TS Việt nhấn mạnh: Bản chất lĩnh vực dịch vụ mới, cao cấp thường hội tụ ở những đô thị lớn với sự tập trung của các DN, tập đoàn trong và ngoài nước cũng như nguồn lao động chất lượng cao. Việc sắp xếp lại giang sơn, mở rộng không gian kinh tế là nhằm tạo điều kiện để các đô thị như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng đẩy mạnh dịch vụ. Đặc biệt, sự ra đời của Trung tâm tài chính quốc tế và hình thành các khu thương mại tự do sẽ thúc đẩy các dịch vụ tài chính mới. Các chính sách thí điểm có kiểm soát (sandbox) sẽ đưa Việt Nam trở thành nơi cung cấp các dịch vụ tài chính chất lượng cao. Từ đó quay lại thúc đẩy sản xuất các sản phẩm hàng hóa khác. Tương tự, khu thương mại tự do là nơi tạo ra những cơ chế đột phá để giúp hoạt động xuất nhập khẩu, giao thương thuận tiện. Trung tâm tài chính quốc tế cũng gắn liền với hoạt động của các khu thương mại tự do và ngành logistics sẽ tạo ra hệ sinh thái hoàn chỉnh trong thời gian tới. "Với quyết tâm cải cách, đột phá và đẩy mạnh dịch vụ cùng với những tiềm năng, lợi thế sẵn có thì Việt Nam sẽ tạo ra đột phá cho mô hình tăng trưởng mới, dựa trên kết nối tất cả lĩnh vực, ngành nghề kinh tế từ sản xuất đến dịch vụ chất lượng cao, hoàn thiện hệ sinh thái kinh tế trong kỷ nguyên mới", TS Nguyễn Quốc Việt chia sẻ thêm.
Theo chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng, vấn đề then chốt là chuyển từ tư duy làm hạ tầng đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái dịch vụ logistics - trung chuyển hoàn chỉnh, nơi DN Việt có thể cung cấp dịch vụ trọn gói chứ không chỉ vận tải thuần túy. Ông Tùng khuyến nghị để chuyển đổi, cần đi từ cấu trúc dịch vụ. Chuyên gia này chỉ ra Việt Nam mạnh về hạ tầng cảng và vận tải, nhưng yếu ở các khâu tạo giá trị cao như quản trị chuỗi cung ứng, phân phối khu vực, logistics hàng không, dịch vụ 3PL/4PL. Điều này khiến hàng đi qua Việt Nam nhiều nhưng giá trị giữ lại thấp. Từ đó, chuyển đổi phải diễn ra theo 3 trục rất cụ thể: Thứ nhất, giảm ma sát thể chế bằng chuẩn dữ liệu thống nhất, tự động hóa thông quan, một cửa thực chất để rút ngắn thời gian và chi phí; Thứ hai, kết nối đa phương thức đúng nghĩa (đường sắt - đường thủy - ICD - cảng - sân bay) để chuyển hàng khỏi đường bộ, giảm chi phí logistics một cách bền vững; Thứ ba, nuôi dưỡng nhà cung cấp dịch vụ nội địa bằng cơ chế đặt hàng, sandbox và tín dụng để DN Việt bán "dịch vụ chuỗi" thay vì chỉ bán chuyến xe/chuyến tàu.






Đọc nhiều