“Gói” tháng chạp vào bánh tét

06/02/2026 - 06:50

 - Có những hương vị được mặc định trong ký ức tháng chạp. Điển hình là mùi lá chuối phơi cuối năm, mùi nếp mới quyện khói bếp, mùi bánh tét đang sôi lặng lẽ trong đêm miền Tây. Mỗi khi tháng chạp chạm ngõ, người ta đã nghe Tết về từ những công việc rất nhỏ: Chẻ lạt, rửa lá, vo nếp. Không ai bảo ai, cả nhà cùng làm, như thể đó là một thói quen đã nằm sẵn trong máu thịt.

Bà Đặng Thị Lệ Y (giữa) hướng dẫn ngói bánh tét. Ảnh: GIA KHÁNH

Bánh tét có dạng đòn dài, tròn, khác với bánh chưng vuông của miền Bắc. Lá chuối được phơi héo vừa phải để dẻo, không rách khi gói. Người miền Tây gói bánh không dùng khuôn, hoàn toàn bằng tay và kinh nghiệm. Khâu xếp lá, trải nếp, cho nhân đến cuộn tròn và cột lạt đều đòi hỏi sự khéo léo. Nguyên liệu gắn với đồng ruộng, sông nước. Nếp thường là nếp mới, hạt to, thơm. Nhân bánh phổ biến nhất là đậu xanh cà nhuyễn và thịt ba rọi ướp muối, tiêu, hành cho đậm đà. Ngoài bánh tét mặn, miền Tây còn có bánh tét chuối, đậu ngọt, lá cẩm… phản ánh sự phong phú của sản vật miệt vườn.

Gói bánh tét từ năm 15 tuổi, bà Đặng Thị Lệ Y, ngụ xã Vĩnh Xương đã có thâm niên gói bánh gần nửa thế kỷ. Hồi đó, mỗi mùa Tết, mẹ của bà lại cầm tay chỉ việc, truyền nghề cho con gái. Ban đầu, bà làm mấy việc lặt vặt như lau lá chuối, nhóm lửa, quan sát bàn tay gói bánh thuần thục của mẹ. Dần dần, bà cũng trở thành người gói thuần thục với từng đòn bánh, biết cách nứt bánh gọn gàng, đẹp mắt, đều nhau. Bà Y chia sẻ “Gói bánh tét nói khó không khó, nói dễ không dễ, làm nhiều sẽ có kinh nghiệm quen tay. Bí quyết thì tùy từng gia đình, từng người. Tôi thường trộn nước cốt dừa vào nếp, nêm gia vị vừa ăn. Đòn bánh phải gói chặt tay để khi nấu lâu không bị bể, nếp chín đều, dẻo quánh”. Chỉ trong thời gian mấy câu nói ấy, một đòn bánh tròn trịa đã hoàn thành từ đôi bàn tay bà.

Một người bạn vong niên của tôi vừa chuyển công tác lên TP. Hồ Chí Minh làm việc. Mấy hôm trời tháng chạp trở gió se lạnh, ông ngồi bên phố xá tấp nập, kể chuyện hồi xưa. Nhà đông anh em, nếp sống nông thôn hằn sâu trong từng suy nghĩ của gia đình, rõ ràng nhất là nấu cái gì cũng phải tính toán cho đủ miệng ăn. Những ngày giáp Tết, người lớn nhẩm tính số lượng nếp, đậu, thịt… rồi phân công từng thành viên tham gia gói, nấu bánh tét. Mà đâu phải chỉ nhà ông! Cả xóm rộn ràng từ sáng sớm, nhà nào cũng chuẩn bị lá chuối, vo nếp, đãi đậu, ướp thịt, như thể Tết đang được gói ghém trong từng công đoạn nhỏ.

Bếp củi cháy riu riu, nồi bánh tét sôi âm thầm như nhịp thở của quê nhà. Lúc ban đầu, đám trẻ háo hức canh bếp, trò chuyện, đùa giỡn ì xèo. Đêm dần khuya, chúng gục đầu ngủ thiếp đi, mang theo mơ mộng về miếng bánh đầu năm. Phần thức còn lại dành cho người lớn với bao lo toan mùa Tết. Có những câu chuyện cũ được nhắc lại bên bếp lửa, chuyện người đã khuất, chuyện mùa nước nổi, chuyện cái Tết nghèo năm nào, chuyện năm mới có gì mới… Trong làn khói mỏng manh của đêm gần cuối năm ấy, bánh tét vượt qua ý nghĩa của một món ăn, được nâng lên thành ký ức sum vầy, là sợi dây nối tháng ngày lam lũ với niềm vui giản dị, bền bỉ của người miền Tây mỗi độ xuân về.

Bánh tét chín không chỉ thơm mùi nếp, mùi đậu, mùi thịt mà còn thơm cả mùi khói bếp, mùi quê nhà. Khi đòn bánh được vớt ra, treo lên cho ráo nước, ai cũng thấy trong đó có phần công sức của mình. Giờ đây, bánh tét có thể mua dễ dàng ngoài chợ, trở thành món ăn dễ tìm hằng ngày. Ít ai nhẫn nại mua nguyên liệu về gói, nấu số lượng lớn như xưa. Cảm giác ngồi bên bếp lửa chờ bánh chín, nghe thời gian trôi chậm trong khói bếp hình như đã theo những cái Tết cũ mà xa dần. Chỉ còn ký ức vẫn âm ỉ cháy mỗi khi Tết về, như người bạn vong niên của tôi đang nhớ quay quắt.

Có lẽ nỗi nhớ đó đã đưa người ta tìm về nếp xưa cũ. Mấy năm gần đây, không khí gói bánh tét được tái hiện theo những cách khác, trong ngày hội văn hóa, ở khu dân cư trước Tết, trong các chương trình xuân. Người ta trải lá chuối, vo nếp, buộc lạt hoặc dây nylon, ngồi quây quần cùng nhau. Không chỉ để làm ra đòn bánh mà để gọi về ký ức, để nhắc nhau nhớ rằng Tết từng bắt đầu giản dị như thế. Người trẻ học gói bánh từ người lớn tuổi như bà Y, chạm tay vào truyền thống. Mỗi đòn bánh hoàn thành là một nhịp cầu nhỏ, nối những cái Tết cũ với mùa xuân của hôm nay. Chị Nguyễn Thị Anh Đào, ngụ phường Long Xuyên từng gói bánh từ nhỏ, nhưng chỉ “biết chút da lông”. Thành công trong kinh doanh, chị dành thời gian tham gia hoạt động xã hội, lại chạm tay vào gói bánh tét lần nữa. Chị Đào cười tươi nói: “Có thể đòn bánh không được khéo nhưng tôi vẫn tự tin và có mấy cô lành nghề chỉnh sửa từng chút. Bánh này sẽ được gửi tặng cho người dân biên giới, cho bộ đội thêm hương vị ngày Tết”.

Trong mùi nếp chín, mùi lá chuối nóng lên, người ta nhận ra rằng ký ức không mất đi, chỉ đổi cách hiện diện. Và nhờ những lần tái hiện ấy, bánh tét vẫn tiếp tục kể câu chuyện Tết miền Tây, chậm rãi, bền bỉ, qua từng thế hệ.

GIA KHÁNH