ADB đề xuất 3 khuyến nghị chiến lược giúp Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

25/02/2020 - 13:46

Ông Donald Lambert, chuyên gia phát triển khu vực tư nhân của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra khuyến nghị 3 chiến lược mấu chốt để Việt Nam có thể đạt được các mục tiêu phát triển đầy tham vọng trong kế hoạch 5 năm tới và những năm tiếp theo.

A A

Việt Nam đang trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. (Nguồn: Reuters)

Trong Thông cáo báo chí do ADB vừa công bố, ông Donald Lamber nhận định, Việt Nam đang xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội mới cho giai đoạn từ năm 2021 tới 2025 và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mới cho giai đoạn từ năm 2021 tới 2030. Chiến lược và kế hoạch này được kỳ vọng đặt ra những mục tiêu phát triển đầy tham vọng phù hợp với vị thế một quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu trong những năm gần đây.

Chuyên gia Phát triển khu vực Tư nhân (ADB), ông Donal Lambert đã đưa ra ba khuyến nghị chiến lược để Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển đầy tham vọng trong kế hoạch 5-năm tới và những năm tiếp theo.

Theo đó, chiến lược đầu tiên là sử dụng xúc tác nhiều hơn cho hỗ trợ phát triển. Điều này đòi hỏi một tư duy khác. Việt Nam không còn là một quốc gia thu nhập thấp nữa, nhưng cũng chưa sẵn sàng tự tài trợ thông qua đầu tư tư nhân và thị trường vốn trong nước. Một giai đoạn chuyển tiếp là cần thiết khi Việt Nam sử dụng sự trợ giúp của các nhà tài trợ để làm xúc tác cho đầu tư tư nhân và nếu không có xúc tác này, đầu tư tư nhân sẽ không tự đến.

Tuy nhiên, giai đoạn chuyển tiếp này sẽ đòi hỏi các công cụ mới, bao gồm, phát hành các khoản bảo lãnh đối ứng cho ADB và các đối tác phát triển khác để họ có thể sử dụng xếp hạng tín nhiệm quốc tế cao của mình nhằm giảm rủi ro cho các dự án.

Việt Nam cũng nên ưu tiên sử dụng hỗ trợ phát triển để tăng cường cho khu vực tài chính, cung cấp những cơ chế dự phòng hoặc các hoạt động tăng cường khác nhằm giúp các doanh nghiệp nhà nước được giao các dự án lớn dễ dàng tiếp cận nguồn vốn với chi phí phù hợp và cho phép các đối tác phát triển phát hành trái phiếu liên kết tiền đồng để giảm chi phí vốn cho các bên vay của Việt Nam. Đây là tất cả những biện pháp mà ADB và các bên khác đã áp dụng ở nhiều quốc gia thu nhập trung bình khác. Nhưng theo chế định hoặc theo chính sách, hiện tại những biện pháp này vẫn chưa thể áp dụng tại Việt Nam.

Sử dụng hỗ trợ phát triển mang tính xúc tác để thu hút đầu tư tư nhân có mối quan hệ chặt chẽ với ưu tiên chiến lược thứ hai là thông qua đạo luật mạnh về đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Quốc hội đã xem xét dự thảo lần thứ nhất của luật và hy vọng có thể thông qua dự thảo lần thứ hai trong tháng 5 này. Các hoạt động tham vấn cần tập trung vào những nội dung chính còn thiếu những phần hấp dẫn, vốn cần thiết để thu hút đầu tư quốc tế.

Ưu tiên chiến lược cuối cùng là huy động tốt hơn các thị trường vốn trong nước. Việc thông qua Luật Chứng khoán mới vào tháng 11/2019 là một bước đi hữu ích, cũng như những thay đổi pháp lý gần đây khuyến khích các công ty tìm đến thị trường trái phiếu thay vì ngân hàng để tài trợ cho các khoản nợ dài hạn.

Theo ông Donald Lambert, nhìn lại những thay đổi kể từ kế hoạch 5 năm trước đây, năm 2015, Việt Nam là nước đứng thứ 5 nhận hỗ trợ phát triển chính thức ròng lớn nhất và đủ tiêu chuẩn được nhận hỗ trợ ưu đãi nhất từ ADB và các nhà tài trợ khác. Tuy nhiên, câu chuyện giờ đây đã khác.

Theo dữ liệu mới nhất hiện có, tới năm 2018, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã gia tăng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là 6,3%, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Việt Nam hiện đã xác lập vững chắc vị thế quốc gia thu nhập trung bình và là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tuy nhiên, thành công này cũng có nghĩa rằng các nhà tài trợ sẽ bắt đầu phân bổ các khoản viện trợ không hoàn lại và các nguồn vốn hỗ trợ nhiều ưu đãi cho các quốc gia có nhu cầu cấp bách hơn. Điều này đã và đang diễn ra.

Trên thực tế, Việt Nam đang ở vào vị thế tốt hơn so với nhiều nước. Trong khi Philippines, Ấn Độ và các quốc gia châu Á khác đã tài trợ một phần lớn cơ sở hạ tầng của mình từ nguồn vốn tư nhân, thì khu vực tư nhân từ trước tới nay mới chỉ tài trợ 10% cơ sở hạ tầng của Việt Nam. "Điều này có nghĩa là còn rất nhiều dư địa cho Việt Nam - nhất là với câu chuyện tăng trưởng ngoạn mục của mình - để thu hút thêm đầu tư cho cơ sở hạ tầng", ông Donald Lambert nhận định.

Theo HỮU CỰ (Thế giới & Việt Nam)