.JPG)
Thành viên Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Thanh niên Phú Hòa, xã Tân Hội theo dõi tình hình sâu bệnh thông qua ứng dụng trên thiết bị di dộng. Ảnh: THÙY TRANG
Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Phạm Thành Trăm cho biết: “Nếu như trước đây hoạt động của các hợp tác xã chủ yếu tập trung vào các dịch vụ truyền thống như làm đất, bơm tưới thì giờ đây nhiều đơn vị đã chuyển sang tư duy phát triển theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với thị trường và ứng dụng công nghệ số trong điều hành”.
Nhiều hợp tác xã có sản phẩm OCOP như Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Hiểu Phát sử dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, quảng bá sản phẩm trên các nền tảng số và mở rộng kênh tiêu thụ. Một số hợp tác xã quy mô lớn còn ứng dụng phần mềm kế toán, nhật ký sản xuất điện tử và các công cụ quản lý hiện đại, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Thành Trăm, mức độ chuyển đổi số giữa các hợp tác xã vẫn chưa đồng đều. Hiện, toàn tỉnh có hơn 70 hợp tác xã nông nghiệp đưa nông sản lên các sàn thương mại điện tử, chiếm chưa đến 10% tổng số hợp tác xã. Phần lớn hợp tác xã quy mô nhỏ mới dừng ở mức số hóa các hoạt động cơ bản như sử dụng Zalo để điều hành, thanh toán không dùng tiền mặt hoặc lưu trữ dữ liệu đơn giản. Nguyên nhân chủ yếu là hạ tầng số và năng lực ứng dụng công nghệ của nhiều hợp tác xã còn hạn chế, trong khi nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi toàn diện.
Để đồng hành cùng các hợp tác xã, thời gian qua, Liên minh Hợp tác xã tỉnh triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ. Hàng loạt lớp đào tạo kỹ năng số, tập huấn sử dụng phần mềm kế toán, nhật ký sản xuất điện tử được tổ chức. Đồng thời, phối hợp các ngành xây dựng mã số vùng trồng, hệ thống truy xuất nguồn gốc, đưa sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử và kết nối với doanh nghiệp tiêu thụ nông sản.
Nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cho thấy hiệu quả rõ rệt. Tại Hợp tác xã Nông nghiệp Tân Hưng, xã Châu Thành, thiết bị bay không người lái được đưa vào gieo sạ, bón phân và phun thuốc bảo vệ thực vật, giúp giảm chi phí nhân công, tiết kiệm vật tư và nâng cao năng suất.
Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng, xã Cù Lao Giêng là một trong những hợp tác xã tiêu biểu về chuyển đổi số trong lĩnh vực cây ăn trái. Ông Nguyễn Minh Hiền - Giám đốc Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng cho biết: “Chúng tôi ứng dụng đồng bộ nhiều giải pháp công nghệ trong quản trị và sản xuất như phần mềm kế toán, nhật ký sản xuất điện tử, quản lý sâu bệnh bằng thiết bị cảm biến… Quy trình sản xuất được số hóa và tích hợp trên hệ thống mã QR truy xuất nguồn gốc. Người tiêu dùng chỉ cần quét mã, có thể biết đầy đủ thông tin về vùng trồng, quy trình chăm sóc, thời điểm thu hoạch và chất lượng từng lô sản phẩm. Hợp tác xã cũng ứng dụng công nghệ IoT để quản lý kho lạnh, theo dõi và điều chỉnh nhiệt độ từ xa, góp phần bảo đảm chất lượng nông sản sau thu hoạch”.
Chuyển đổi số không chỉ giúp hợp tác xã nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo niềm tin cho doanh nghiệp và người tiêu dùng thông qua việc minh bạch hóa toàn bộ quá trình sản xuất, qua đó nâng cao khả năng ký kết các hợp đồng tiêu thụ lớn. Để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển của khu vực kinh tế tập thể, ông Phạm Thành Trăm cho rằng cần tập trung tháo gỡ đồng thời 3 điểm nghẽn lớn là nhân lực, vốn và hạ tầng số.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã phần lớn còn hạn chế về kỹ năng công nghệ, đòi hỏi phải có chính sách thu hút nhân lực trẻ, đồng thời đổi mới phương thức đào tạo theo hướng thực hành, gắn với các mô hình chuyển đổi số thành công. Bên cạnh đó, cần mở rộng các nguồn vốn ưu đãi để hợp tác xã đầu tư phần mềm, thiết bị công nghệ và khuyến khích doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ số với chi phí phù hợp. Cùng với đó là tiếp tục đầu tư hạ tầng số tại khu vực nông thôn, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp, xây dựng các nền tảng số liên thông để hợp tác xã dễ dàng kết nối, chia sẻ dữ liệu và tham gia chuỗi giá trị.
Thời gian tới, Liên minh Hợp tác xã tỉnh sẽ tập trung đào tạo nguồn nhân lực số cho các hợp tác xã; hỗ trợ ứng dụng nhật ký điện tử, phần mềm kế toán và AI trong quản lý, sản xuất; kết nối sản phẩm OCOP với các sàn thương mại điện tử và hệ thống phân phối hiện đại. Song song đó, khuyến khích hợp tác xã ứng dụng drone, cảm biến IoT trong sản xuất, đẩy mạnh truyền thông số và số hóa hợp đồng liên kết tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, tối ưu chuỗi cung ứng và tăng sức cạnh tranh của nông sản An Giang.
THÙY TRANG