Hành trang đưa Việt Nam vào kỷ nguyên mới

30/08/2025 - 14:05

Hành trình 80 năm của Việt Nam, bắt đầu từ sự kiện trọng đại giành độc lập ngày 2/9/1945, đã tái khẳng định tự do và khát vọng hạnh phúc tập thể, tạo nên những điều kiện thiết yếu để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Đây là đánh giá của ông Stefano Bonilauri - Giám đốc nhà xuất bản Anteo Edizioni tại Italy - trong cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Rome nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025).

Chú thích ảnh

Ông Stefano Bonilauri, Giám đốc Nhà xuất bản Anteo Edizioni, trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. Ảnh tư liệu: Dương Hoa/TTXVN

Ông Bonilauri nhấn mạnh bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước hàng trăm nghìn người cách đây 8 thập kỷ đã thể hiện rõ khát vọng độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và ý chí sẵn sàng cống hiến cả tinh thần, sức lực, tính mạng cũng như của cải để bảo vệ tự do và độc lập cho đất nước. Chính khát vọng độc lập, tự chủ và tự cường của nhân dân Việt Nam là động lực không thể ngăn cản của toàn bộ tiến trình cách mạng. Kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam - dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã đặt việc huy động mọi nguồn lực và xây dựng “đại đoàn kết toàn dân” làm trọng tâm trong chiến lược quốc gia.

Trong các cuộc kháng chiến, tinh thần ấy được thể hiện ở khả năng biến mỗi làng quê thành một “tiền đồn” của lòng yêu nước và tự cung, tự cấp. Trên vùng núi Trường Sơn và dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, hàng nghìn thanh niên xung phong và các gia đình nông dân đã tổ chức các hợp tác xã cứu trợ và các trạm y tế tự phát, đảm bảo nguồn cung cấp lương thực, thuốc men và đạn dược. Sự đoàn kết giữa quân đội và nhân dân, được tổ chức bởi Mặt trận Dân tộc Cứu quốc (tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) và các đoàn thể thanh niên đã giúp chống lại sự xâm lược của nước ngoài chỉ bằng sức mạnh của nhân dân.

Trong thời kỳ hậu chiến và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tinh thần tự chủ đã thúc đẩy các cải cách nông nghiệp và công nghiệp. Với chính sách Đổi Mới được khởi xướng năm 1986, Việt Nam đặt mục tiêu "thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", duy trì vai trò chủ đạo của nhà nước trong điều phối kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và hướng tới các mục tiêu phát triển. 

Tiếp đó, trong những năm bị cấm vận kinh tế, việc huy động các ngành công nghiệp cơ bản như dệt may, giày dép, nông sản và sự mở rộng hợp tác xã nông thôn đã chứng minh "nội lực" có thể thay thế sự thiếu hụt nguồn lực bên ngoài. Ngay cả trong thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch COVID-19, sự phối hợp ứng phó của Đảng, chính phủ và các tổ chức quần chúng, dựa trên nguyên tắc "đặt nhân dân lên hàng đầu", đã giúp ngăn chặn sự lây lan của COVID-19 và đảm bảo tính liên tục của sản xuất.

Ông Stefano Bonilauri cho rằng uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục tăng lên qua từng năm. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 194 quốc gia, đồng thời phát triển quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác chặt chẽ với tất cả các cường quốc. Việt Nam cũng tích cực hội nhập vào các thể chế quốc tế chủ chốt và được coi là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đóng góp đáng kể vào hòa bình, ổn định và phát triển toàn cầu. Việt Nam cũng kiên trì theo đuổi chính sách "ngoại giao trong kỷ nguyên mới", thể hiện sự linh hoạt trong việc cân bằng quan hệ với tất cả các cường quốc.

Cũng theo vị giám đốc nhà xuất bản này, hành trình 80 năm qua của Việt Nam đã tạo nên những điều kiện thiết yếu để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Trước hết, hàng thập kỷ kinh nghiệm kháng chiến và xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa đã củng cố ý thức mạnh mẽ về chủ quyền và phẩm giá trong ý thức dân tộc. Các thế hệ sau không chỉ kế thừa cơ sở hạ tầng và thể chế, mà trên hết là nhận thức rằng nhân dân Việt Nam có quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Di sản niềm tin này đã nuôi dưỡng khát vọng cải cách và đổi mới, bởi những người đã chiến đấu và hy sinh vì tự do không ngại đương đầu với thử thách trong tương lai.

Đồng thời, việc Việt Nam luôn đặt nhân dân vào trung tâm của các chính sách nhà nước - một di sản sâu sắc của Tư tưởng Hồ Chí Minh và cam kết của các thế hệ lãnh đạo – cũng được thể hiện qua những thành tựu trong giáo dục, y tế và xóa đói giảm nghèo. Một dân số khỏe mạnh, có trình độ học vấn với ý thức cộng đồng mạnh mẽ giờ đây có thể đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, gắn kết xã hội và làm giàu văn hóa. Sức mạnh nội tại đó, được tiếp thêm động lực bởi tinh thần cách mạng vững chắc, đã đưa Việt Nam từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá trở thành hình mẫu cho nhiều nước đang phát triển khác.

Tuy nhiên, cùng với những thành tựu này, những thách thức phía trước cũng không kém phần quan trọng, nhất là trong quá trình Việt Nam đẩy mạnh thực hiện đầy đủ các mục tiêu của kỷ nguyên vươn mình. Duy trì sức cạnh tranh trong một nền kinh tế toàn cầu với công nghệ ngày càng phát triển đòi hỏi Việt Nam phải đẩy nhanh các chính sách đổi mới sáng tạo và nghiên cứu khoa học, qua đó chuyển từ trung tâm sản xuất giá trị gia tăng thấp sang trung tâm cho các giải pháp kỹ thuật số, công nghệ sinh học và công nghệ xanh. Thêm vào đó là nhu cầu cần phải bảo vệ môi trường và quyết liệt đẩy lùi biến đổi khí hậu để không làm ảnh hưởng đến tương lai của các vùng ven biển và đồng bằng sông Cửu Long, khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên và có các cộng đồng nông nghiệp dễ bị tổn thương.
Ngoài ra, quá trình chuyển đổi nhân khẩu học - với dân số đô thị ngày càng tăng và già hóa – cũng đòi hỏi Việt Nam cần cải cách hệ thống phúc lợi và lương hưu, cũng như các chương trình học tập suốt đời để duy trì chất lượng nguồn nhân lực cao.

Cuối cùng, việc chống lại bất bình đẳng, đặc biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn hay giữa các vùng có trình độ phát triển khác nhau, đòi hỏi Việt Nam phải có các chính sách đồng bộ và “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Theo TTXVN