Hiệu quả nuôi tôm trong môi trường nước độ mặn thấp

12/06/2026 - 08:34

Nuôi tôm trong môi trường độ mặn thấp đang phát sinh một số khó khăn như: nguồn nước khan hiếm, thiếu khoáng chất và dễ bị ô nhiễm... Vì vậy, để khắc phục tình trạng này, các nhà khoa học đã nghiên cứu, ứng dụng công nghệ lai Biofloc - lọc sinh học (Bio RAS) để nuôi tôm thẻ chân trắng trong môi trường có độ mặn thấp.

Thu chế phẩm nitrat hóa góp phần bổ sung nguồn thức ăn tự nhiên khi nuôi tôm thẻ. (Ảnh: VÂN NGA)

Thu chế phẩm nitrat hóa góp phần bổ sung nguồn thức ăn tự nhiên khi nuôi tôm thẻ. (Ảnh: VÂN NGA)

Hiện nay, nhiều cơ sở nuôi tôm thẻ chân trắng (tôm thẻ) đã dần thay thế các phương pháp truyền thống bằng công nghệ nuôi trồng thủy sản lọc tuần hoàn (RAS). Việc sử dụng công nghệ này giúp hộ nuôi tiết kiệm nước, không gây ô nhiễm môi trường, giảm nguy cơ dịch bệnh và hóa chất diệt khuẩn…

Tuy nhiên, giải pháp này đã và đang bộc lộ hạn chế nghèo dinh dưỡng trong nước, trong khi tôm thẻ ăn mùn bã hữu cơ cho nên đây không phải là môi trường lý tưởng giúp tôm phát triển. Trong khi đó, công nghệ Biofloc (BFT) là kỹ thuật tạo bông sinh học từ các chất hữu cơ lơ lửng trong nước được chuyển hóa thành biofloc.

Sản phẩm này có tác dụng như một loại men vi sinh có lợi cho động vật thủy sinh, giàu protein và khoáng chất giúp cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi, đồng thời khắc phục những hạn chế của công nghệ RAS. Tuy vậy, sự lệch chuẩn giữa các giải pháp công nghệ kết hợp sử dụng thức ăn chưa khoa học khiến hiệu quả nuôi tôm chưa cao. Điều đó, đòi hỏi các hộ nuôi hướng tới một giải pháp vừa tạo môi trường nuôi ổn định, tránh dịch bệnh, vừa bổ sung nguồn dinh dưỡng phù hợp giúp tôm phát triển tốt.

Trước thực tế này, Tiến sĩ Đỗ Mạnh Hào, Viện Hải dương học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã phối hợp các đồng nghiệp triển khai dự án: “Hoàn thiện và thử nghiệm quy trình công nghệ Biofloc - lọc sinh học (Bio RAS) để nuôi tôm thẻ chân trắng trong môi trường có độ muối thấp”. Đây là sự kết hợp trên cơ sở công nghệ RAS với công nghệ Biofloc nhằm tạo ra các hạt sinh học giàu vi sinh và dinh dưỡng ngay trong bể nuôi. Từ giải pháp công nghệ Bio RAS, nhóm nghiên cứu cũng hướng đến hoàn thiện thiết kế hệ thống nuôi tôm trong môi trường độ mặn thấp và đạt năng suất, chất lượng cao so với phương pháp truyền thống.

Theo Tiến sĩ Đỗ Mạnh Hào, điểm cốt lõi của Bio RAS không phải là “ghép cơ học” hai công nghệ mà là sự thiết kế lại hệ thống để quá trình lọc tuần hoàn và biofloc bổ trợ lẫn nhau, tạo nên một hệ sinh thái nuôi thủy sản hiệu quả với môi trường ổn định; khả năng bổ sung lượng thức ăn tự nhiên đáng kể cho tôm từ các biofloc được hình thành bởi sự kết dính của tảo, vi sinh vật và phân tôm trong ao nuôi. Qua đó, giúp tôm phát triển nhanh, giảm chi phí đầu tư, cải thiện môi trường ao nuôi và hạn chế tối đa các bệnh truyền nhiễm. Sự phát triển của vi khuẩn nitrate hóa tự dưỡng và dinh dưỡng trong các biofloc ở ao nuôi sẽ được cải thiện đáng kể, bởi hiệu quả xử lý ammonia và nitrite so với công nghệ RAS. Với những ưu điểm nêu trên, công nghệ Bio RAS có thể là giải pháp công nghệ tiên tiến nhất hiện nay khi ứng dụng để nuôi tôm thẻ chân trắng trong môi trường có độ muối thấp.

Điểm cốt lõi của Bio RAS không phải là “ghép cơ học” hai công nghệ mà là sự thiết kế lại hệ thống để quá trình lọc tuần hoàn và biofloc bổ trợ lẫn nhau, tạo nên một hệ sinh thái nuôi thủy sản hiệu quả với môi trường ổn định; khả năng bổ sung lượng thức ăn tự nhiên đáng kể cho tôm từ các biofloc được hình thành bởi sự kết dính của tảo, vi sinh vật và phân tôm trong ao nuôi.

Tiến sĩ Đỗ Mạnh Hào, Viện Hải dương học

(Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Để các kết quả thử nghiệm được chính xác, nhóm nghiên cứu đã tiến hành nuôi bốn mẻ tôm theo quy trình hai giai đoạn, kết hợp nuôi gối vụ tại hai loại bể có thể tích 50m2 và 300m2. Kết quả cho thấy, hệ thống vận hành tốt trong nhiều điều kiện thời tiết khác nhau. Tôm đạt trọng lượng thu hoạch 68 đến 80 con/kg, tỷ lệ sống đạt trên 85% với năng suất ổn định.

Cùng với ưu điểm đó, quá trình nghiên cứu cho thấy nuôi tôm độ mặn thấp không chỉ tận dụng được những diện tích đất bị bỏ hoang, đất chua phèn trồng trọt kém hiệu quả mà còn hạn chế bùng phát các bệnh; thích hợp xây dựng hệ thống nuôi hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng và hạn chế ô nhiễm môi trường chung quanh.

Tuy nhiên, việc ứng dụng giải pháp công nghệ này cũng gặp một số khó khăn như: Nguồn nước sử dụng khan hiếm, yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt nguồn nước thoát ra để không gây mặn hóa môi trường chung quanh. Hơn nữa, yêu cầu về chất lượng nước nuôi cũng cao hơn do độc tính của một số chất ô nhiễm tăng cao, đòi hỏi duy trì và cân bằng các chất khoáng, ion và xử lý những bệnh mới phát sinh...

Theo Hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm, dự án đã hoàn thành khối lượng công việc lớn, các kết quả thu được có giá trị khoa học và tính thực tiễn cao, có thể ứng dụng rộng rãi công nghệ này khi nuôi tôm thẻ trong môi trường có độ muối thấp và mang lại hiệu quả kinh tế cao so với các phương pháp nuôi truyền thống. Thành công của dự án là sự kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học, đồng thời mang lại giá trị và ý nghĩa to lớn về mặt kỹ thuật, khả năng vận hành ổn định, chi phí đầu tư thấp khi nuôi thủy sản; giảm áp lực môi trường và hạn chế dịch bệnh, mở hướng sử dụng hiệu quả các vùng đất nhiễm mặn, bạc màu.

Theo Nhandan.vn