Đồ án tốt nghiệp Triển lãm Tam Tòa Thánh Mẫu của sinh viên Nguyễn Thu Trà, Đại học Kiến trúc 2 - Ảnh: TGCC
Thế kỷ 21 đã được các nhà tư tưởng quản trị hàng đầu như Peter Drucker dự báo là kỷ nguyên mà văn hóa và nghệ thuật sẽ đóng vai trò quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia.
Với Nghị quyết 80 và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam đã chính thức xác lập một lộ trình bài bản nhằm biến văn hóa từ một khái niệm trừu tượng trở thành một "động lực kinh tế trực tiếp", một "nguồn lực nội sinh" mãnh liệt để đất nước vươn mình bền vững.
Sự chuyển dịch trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa
Nghị quyết 80 nâng tầm vai trò của văn hóa lên một nấc thang mới, xác định văn hóa định hình sự phát triển bền vững và là sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Tầm nhìn này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong phương thức vận hành: chuyển từ "quản lý văn hóa" dựa trên các mệnh lệnh hành chính và cơ chế xin cho sang "quản trị văn hóa" dựa trên các quy luật của kinh tế sáng tạo và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Việc chuyển đổi sang mô hình quản trị văn hóa có nghĩa là Nhà nước sẽ đóng vai trò là "người kiến tạo", xây dựng hành lang pháp lý và tạo cầu nối giữa các quỹ đầu tư với các doanh nghiệp sáng tạo, thay vì can thiệp trực tiếp vào từng hoạt động chuyên môn.
Điều này tạo không gian cho các chủ thể tư nhân - những doanh nghiệp nghìn tỉ - có thể tự tin đầu tư vào các dự án văn hóa quy mô lớn, bởi như thực tế đã chứng minh, nếu không có những doanh nghiệp nghìn tỉ trong công nghiệp văn hóa, chúng ta sẽ không bao giờ có một nền công nghiệp văn hóa tỉ đô.
Việt Nam sở hữu những lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được. Với 4.000 năm lịch sử hào hùng, mỗi giai đoạn lịch sử đều là một bản anh hùng ca vĩ đại, cung cấp nguồn chất liệu vô tận cho điện ảnh, văn học, hội họa và trò chơi điện tử.
Sự đa dạng về bản sắc của 54 dân tộc anh em tạo nên một hệ sinh thái văn hóa phong phú, là "mỏ kim cương" cho các ngành kinh tế sáng tạo, đặc biệt là thời trang và thiết kế, khai thác và phát triển.
Việt Nam nằm trên tuyến giao thông biển huyết mạch của thế giới với đường bờ biển dài và những bãi biển được vinh danh đẹp nhất hành tinh như Phú Quốc, Nha Trang hay Mỹ Khê.
Những danh thắng như Hà Giang với cao nguyên đá hùng vĩ hay Phong Nha - Kẻ Bàng với hệ thống hang động kỳ vĩ nhất thế giới không chỉ là tài nguyên du lịch mà còn là những phim trường tự nhiên tuyệt vời, có khả năng thu hút các đoàn làm phim quốc tế lớn nếu được đầu tư hạ tầng dịch vụ tương xứng.
Các tác phẩm văn học chữ Nôm xuất sắc nhất của Việt Nam tập trung tại Làng Trường Lưu và Làng Tiên Điền (Hà Tĩnh) là nguồn chất liệu quý giá cho các sản phẩm công nghiệp văn hóa kết tinh từ di sản - Ảnh: TGCC
Mục tiêu xa vời hay trong tầm tay?
Mục tiêu đưa Việt Nam lọt vào Top 30 quốc gia có sức mạnh mềm lớn nhất thế giới được đặt ra trong nghị quyết 80. Văn kiện Đại hội Đảng XIV cũng xác định "công nghiệp văn hóa không chỉ là giải trí mà là con đường để xuất khẩu văn hóa ra thế giới".
Theo Báo cáo Chỉ số quyền lực mềm toàn cầu 2025 của Brand Finance, Việt Nam hiện đang đứng vị trí thứ 52 toàn cầu. Thực tế, sức mạnh mềm của Việt Nam đang có những nhân tố đột phá như ẩm thực đứng thứ 16 thế giới về mức độ được yêu thích, thậm chí cao hơn trên nhiều bảng xếp hạng.
Chúng ta có hàng chục khách sạn được vinh danh trong các danh sách khách sạn tốt nhất thế giới. Việt Nam đứng thứ 6 trong Top điểm đến di sản hàng đầu thế giới của WTA, riêng cao nguyên đá Đồng Văn được vinh danh là điểm đến văn hóa địa phương hàng đầu thế giới và làng Lô Lô Chải được UN Tourism công nhận là Làng du lịch tốt nhất thế giới 2025 nhờ giữ nguyên kiến trúc nhà trình tường và bản sắc văn hóa đặc trưng.
Sức mạnh mềm văn hóa không phải là một chỉ số tĩnh mà là kết quả của một quá trình bồi đắp liên tục từ văn hóa, giáo dục và khoa học.
Nếu chúng ta biết cách mài giũa, chế tác và "đóng gói" các giá trị di sản 4.000 năm thành những sản phẩm giải trí hiện đại như công nghiệp trò chơi điện tử và hoạt hình Trung Quốc, điện ảnh và K-pop đã làm, Top 30 hoàn toàn không phải là mục tiêu xa vời.
Di sản văn hóa là niềm cảm hứng sáng tác của thế hệ Alpha. Trong ảnh là phối cảnh Triển lãm Tam Tòa Thánh Mẫu của sinh viên Nguyễn Thu Trà, Đại học Kiến trúc - Ảnh: TGCC
Những con số bất đối xứng
Mặc dù có tiềm năng khổng lồ nhưng bức chân dung công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay vẫn còn những mảng khuyết đáng tiếc.
Trong Báo cáo Kinh tế sáng tạo toàn cầu của UNCTAD năm 2024, Việt Nam đứng thứ 6 trong nhóm các nền kinh tế đang phát triển về xuất khẩu hàng hóa sáng tạo với kim ngạch 15,9 tỉ USD.
Tuy nhiên, giá trị này chủ yếu nằm ở các nhóm ngành như đồ nội thất (43,2%) và phụ kiện thời trang (22,6%), trong khi các ngành mang tính "nội dung số" và "bản sắc văn hóa" cao như điện ảnh, dịch vụ sáng tạo và sở hữu trí tuệ lại chưa có dữ liệu thống kê đầy đủ.
Phối cảnh Bảo tàng Hà Tĩnh - công trình vừa khởi công tháng 12-2025, được kỳ vọng sẽ là trung tâm công nghiệp văn hóa tầm vóc quốc tế của miền Trung - nơi không chỉ trưng bày hiện vật tái hiện lịch sử Hà Tĩnh mà còn là nơi tổ chức sự kiện, triển lãm, hoạt động văn hóa kết nối mạng lưới di sản UNESCO và mang tinh hoa văn học Hán - Nôm Việt Nam ra thế giới - Ảnh: TGCC
Chúng ta đang có tất cả các ngành nghệ thuật - từ hội họa, âm nhạc đến sân khấu - nhưng chưa thực sự có các ngành "công nghiệp văn hóa" theo đúng nghĩa.
Sự khác biệt nằm ở chỗ: công nghiệp văn hóa đòi hỏi sự hội tụ của bốn thành tố: tài năng sáng tạo, vốn văn hóa, công nghệ hiện đại và kỹ năng kinh doanh chuyên nghiệp. Hiện nay, các thành tố này vẫn đang vận động rời rạc, thiếu sự kết nối chuỗi giá trị.
Một thách thức lớn khác là sự vắng mặt của các "doanh nghiệp dẫn dắt" trong lĩnh vực nội dung văn hóa. Lĩnh vực sản xuất nội dung văn hóa vẫn chủ yếu dựa vào các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ, khiến các dự án mang tầm vóc quốc tế khó có thể triển khai dài hơi.
Sản phẩm công nghiệp văn hóa của Việt Nam phần lớn đang "chạy theo thị trường" thay vì "dẫn dắt thị trường". Chúng ta thiếu những tác phẩm mang tính biểu tượng, có khả năng định hình lối sống hoặc quảng bá hệ giá trị Việt Nam ra thế giới như cách Hollywood hay Làn sóng Hallyu đã thực hiện thành công.
Làng cổ Trường Lưu - ngôi làng duy nhất trên thế giới có đến 3 di sản tư liệu của nhân loại - cần được đầu tư, nâng cấp thành trung tâm công nghiệp văn hóa tầm vóc quốc tế trên nền tảng di sản tư liệu cổ thư và chữ viết Hán - Nôm với sự hỗ trợ của UNESCO - Ảnh: TGCC
Hoa văn ở đình làng Trường Lưu - Ảnh: TGCC
Chuyển đổi di sản thành tài sản
Thay vì xây dựng những dự án hoành tráng nhưng thiếu nội dung, chúng ta nên bắt đầu từ việc tối ưu hóa các giá trị di sản sẵn có bằng tư duy kinh tế sáng tạo. Người viết hình dung ba viễn cảnh rất gần của bức tranh công nghiệp văn hóa Việt Nam 2026.
Đó là Khu di tích Làng Sen quê Bác - một mô hình công nghiệp văn hóa từ chuỗi giá trị danh nhân, biến lượng khách 3 triệu lượt mỗi năm thành một động lực tăng trưởng kinh tế tri thức của tỉnh Nghệ An.
Hay Lễ hội Trung thu quốc tế Hồ Gươm - một không gian văn hóa có lượng người qua lại cực lớn, là nguồn khách có sẵn cực kỳ quý giá cho bất kỳ hoạt động văn hóa nào. Và Làng cổ Trường Lưu - trung tâm cổ thư UNESCO, ngôi làng du lịch di sản hàng đầu thế giới sánh ngang với Hallstatt (Áo), Cửu Phần (Jiufen, Đài Loan), Keukenhof (Hà Lan)…
Nếu những viễn cảnh này trở thành sự thực, chúng ta sẽ nhìn thấy rõ hơn cách để văn hóa thực sự "vươn mình" ra biển lớn thông qua con đường xuất khẩu tri thức 4.000 năm nước Việt, thẩm mỹ dân tộc và trí tuệ bản địa.









Đọc nhiều