Nghề truyền thống ở An Giang thiếu lực lượng kế thừa

02/10/2026 - 10:23

 - Không chỉ áp lực về việc tìm kiếm khách hàng, nhiều nghề, làng nghề truyền thống ở An Giang có nguy cơ mai một do thiếu lực lượng kế thừa. Nhiều người làm nghề đã cao tuổi, còn người trẻ ngại học vì thu nhập bấp bênh.

Người dân xã Vĩnh Thuận làm nghề đan đát.

Tại xã Vĩnh Thuận, nghề đan đát hình thành và phát triển gần 100 năm. Từ tre, trúc, qua bàn tay khéo léo của người thợ, nhiều sản phẩm như cần xé, me bồ, bội gà được làm ra phục vụ đời sống. Nghề đan đát từng giúp nhiều hộ dân có thêm thu nhập trong thời gian nông nhàn.

Theo người dân làm nghề đan đát, thời gian làm việc linh hoạt, thu nhập tùy vào tay nghề, công đoạn và lượng đơn hàng. Mỗi ngày, người làm nghề có thu nhập khoảng 50.000 - 200.000 đồng, tùy năng suất. Sản phẩm có đầu ra tương đối ổn định nhờ các đơn đặt hàng và đầu mối thu mua.

Dù vậy, nghề vẫn đối mặt với những khó khăn về nguyên liệu và thị trường. Tre, trúc tại địa phương không đủ nên phải mua từ nơi khác. Nguyên liệu sau khi đưa về phải được xử lý, bảo quản đúng cách mới giữ được chất lượng sản phẩm. Người làm nghề đan đát phải liên tục sáng tạo, thay đổi mẫu mã để đáp ứng nhu cầu thị trường. Điều khiến nhiều người lo ngại là câu chuyện truyền nghề.

Những người cao tuổi vẫn còn gắn bó với nghề, trong khi con cháu chọn việc khác để có thu nhập ổn định hơn. Bà Trần Thị Duyên, ngụ xã Vĩnh Thuận cho biết: “Tôi có 35 năm làm nghề đan đát, nối nghiệp từ ông nội và cha. Nhưng nay tôi lớn tuổi, các con thì đi làm nghề khác, không nối nghiệp nên khó có thể giữ nghề được lâu dài”.

Người dân ấp Đầu Doi, xã Hòn Đất làm nghề lò đất.

Nghề chằm nón lá ở ấp Kênh 8B, xã Thạnh Đông đã tồn tại nhiều năm phục vụ đời sống lao động. Tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên, qua bàn tay khéo léo của người thợ, từng chiếc nón lá được làm ra. Tuy nhiên, các sản phẩm hiện đại ngày càng phổ biến, nhu cầu sử dụng nón lá giảm khiến số người duy trì nghề ngày càng ít.

Hiện ở ấp Kênh 8B nghề chỉ còn khoảng 10 người gắn bó, trong đó chỉ có vài hộ làm thường xuyên. “Công việc cần sự tỉ mỉ, kiên trì nhưng thu nhập không còn đủ sức hấp dẫn đối với lao động trẻ, khiến việc giữ nghề của một số gia đình ngày càng khó”, bà Phạm Thị Tháng, ngụ xã Thạnh Đông nói.

Người dân ấp Đầu Doi, xã Hòn Đất vận chuyển lò đất chuẩn bị đi tiêu thụ.

Hình thành từ năm 1920, người dân ở ấp Đầu Doi, xã Hòn Đất tận dụng nguồn đất sét có khả năng chịu nhiệt tốt tại địa phương để làm lò đất. Khởi đầu là công việc lúc nông nhàn của đồng bào Khmer, nghề dần lan tỏa sang cộng đồng người Việt, trở thành nghề truyền thống và sinh kế gắn bó với người dân hơn một thế kỷ. Tuy nhiên, hiện nghề không còn thịnh như trước.

Theo chị Quách Thị Ngọc Hà, ngụ xã Hòn Đất, để làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh, người thợ làm lò đất phải trải qua nhiều công đoạn, từ chọn đất, nhào nặn, tạo hình đến làm bóng, tạo hoa văn và nung. Có sản phẩm mất vài ngày mới hoàn thành, công việc vất vả, thu nhập không cao nên các con chị không muốn theo nghề. “Hiện nay muốn tìm người chịu học và gắn bó với nghề làm lò đất rất khó”, chị Hà nói.

Sản phẩm của nhiều nghề, làng nghề hiện vẫn còn chỗ đứng trên thị trường nhưng lại thiếu lực lượng nối nghiệp. Trước nhiều cơ hội việc làm hiện đại, những nghề thủ công truyền thống đòi hỏi sự kiên nhẫn nhưng thu nhập chưa ổn định khó thu hút người lao động trẻ.

Bên cạnh tổ chức truyền dạy kỹ thuật, địa phương cần quan tâm ổn định nguồn nguyên liệu, hỗ trợ xây dựng thương hiệu phù hợp với thị trường và tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm. Khi người làm nghề có thu nhập tương xứng với công sức bỏ ra, nghề truyền thống mới có thêm điều kiện duy trì và thu hút người trẻ nối nghiệp.

THỦY TIÊN