Nhớ sân phơi lúa

02/03/2026 - 15:10

 - Đi dọc những con đường quê vùng Tây sông Hậu (tỉnh An Giang) những ngày này, hai bên đồng lúa chín vàng rực. Thỉnh thoảng ven đường, trước sân nhà ai đó, tôi vẫn bắt gặp vài khoảnh lúa đang phơi. Nắng phủ lên hạt lúa màu mật, bàn cào dựng nép bên vách, bóng người đi qua in dài trên nền xi măng, cảnh quê quen thuộc bỗng kéo tôi trở về cái sân phơi lúa nhà ngoại năm nào.

Quê tôi nằm nép bên một con rạch nhỏ, nước chảy lững lờ như không muốn trôi đi khỏi mấy bờ bông quen mặt. Nhà ngoại ở cuối xóm, có cái sân xi măng được ngoại tráng láng o, phẳng lì, để mỗi mùa lúa về lại hóa thành một khoảng vàng rực rỡ. Sân phơi lúa nhà ngoại nuôi lớn chị em tôi bằng nắng gắt và bụi mịt mù.

Mỗi mùa gặt, lúa từ đồng đưa về, đổ tràn ra sân, vàng óng như nắng được gom lại. Có khi lúa nhà ngoại, lúa nhà tôi, phơi xong lại tới lúa nhà hàng xóm mượn sân. Cái sân nhỏ mà gánh cả xóm. Ngoại nói: “Đất có rộng đâu con, mà lòng mình rộng thì lúa cũng thấy vui”. Tôi tin vậy, vì chưa khi nào sân vắng tiếng cười, vắng tiếng bàn cào xào xạc.

Sân phơi lúa của nông dân An Giang.

Ông ngoại là thợ mộc, nên bồ cào, cán tre, bàn cào đều do tay ông làm. Những chiếc răng gỗ được vót tỉ mỉ, chắc chắn. Ông không chỉ làm cho nhà mình, mà còn để bà con tới mượn khi cần. Tôi nhớ dáng ông lom khom, mồ hôi chảy xuống lưng áo bạc màu, miệng cười hiền. Ở quê, người ta sống với nhau bằng cái tình cho mượn, không cần ghi sổ.

Thích nhất là những đêm ngủ ngoài sân để chừng lúa với ngoại. Cái mùng dã chiến giăng vội, bốn góc buộc vào mấy bao lúa được chất cao quá đầu người. Trăng nằm nghiêng trên mái nhà, gió thổi qua mặt lúa nghe rì rào như tiếng ai kể chuyện. Mùi lúa chín thơm lừng, quyện với mùi đất sau một ngày nắng. Ngoại nằm bên, khẽ nói: “Lúa năm nay trúng mùa, đỡ lo thiếu trước hụt sau”. Tôi nghe câu nói ấy như nghe một lời cầu nguyện.

Ngoại từng kể chuyện những ngày quê còn bom đạn. Lúa tới mùa mà không dám gặt ban ngày, sợ máy bay. Người ta gặt ban đêm, ánh đèn leo lét, tay run mà lòng thì ráng giữ cho hạt lúa không rơi xuống bùn. “Có khi đạn nổ đằng xa mà tay vẫn cắt, vì bỏ ruộng là đói”. Tôi lớn lên giữa những câu chuyện như vậy, hiểu rằng hạt cơm mình ăn không chỉ có mồ hôi, mà còn có cả nỗi sợ và sự gan lì của một thời.

Lúa đông xuân chỉ cần hai, ba nắng là hạt se lại, bán được. Hè thu thì ướt hơn, hạt lúa nặng nước, gặp mưa dầm hai ngày là coi như mất giá. Những bữa trời đột ngột đổ mưa, cả nhà hối hả gom lúa. Tôi sợ nhất là cầm bao hốt lúa. Bụi bay mịt mù, cay xè mắt. Tôi phải đứng cho vững, giữ miệng bao cho má đổ lúa vào thật nhanh. Lúa tràn qua tay, nóng rát. Hít một hơi là nghe mùi nồng ngai ngái, bụi lúa bám đầy tóc, đầy mi mắt.

Có một năm lúa hè thu gặp mưa dầm liên miên. Trời xám xịt suốt mấy ngày, sân chưa kịp khô đã lại ướt. Lúa đổ ra phơi rồi lại vội vã gom vô. Hạt lúa bắt đầu lên mọng trắng, nứt mầm li ti. Tôi còn nhỏ, chỉ thấy lúa khác đi, không còn vàng óng mà tái tái, mềm oặt.

Ngoại ngồi giữa sân, cầm từng nắm lúa lên coi. Những hạt lúa nứt mầm nằm trong lòng bàn tay gầy guộc. Mắt ngoại đỏ hoe. Ngoại không khóc thành tiếng, chỉ thở dài, giọng khàn đi: “Vậy là mất giá rồi con”.

Tôi lần đầu thấy một người lớn buồn vì những hạt lúa. Không phải buồn vu vơ, mà buồn như mất đi thứ gì gắn với chén cơm sắp tới. Tôi đứng bên, không dám hỏi. Chỉ thấy lòng mình chùng xuống. Hóa ra, một cơn mưa dầm cũng đủ làm cả mùa nắng trở nên chông chênh. Lúc đó, tôi tự nhủ phải ráng học. Ráng đi khỏi cái sân này, để sau này không còn cầm bao lúa hít bụi đến nghẹn thở, không còn nhìn thấy ánh mắt đỏ hoe vì lúa mất giá. Nghĩ vậy mà lòng lại rưng rưng, vì thương má, thương ngoại cả đời quẩn quanh với nắng.

Rồi thời gian trôi đi như nước rạch trước nhà, lặng lẽ mà không chờ ai. Máy gặt đập liên hợp xuất hiện. Người ta không còn cắt lúa bằng tay, không còn vác từng bao lúa nặng trĩu về sân. Lúa được bán tươi ngay tại ruộng. Các nhà máy xay xát có dây chuyền sấy lúa tươi, sấy khô, hạt lúa không còn phải dò hơi trên sân nắng nữa.

Cái sân nhà ngoại vắng dần những ngày vàng rực.

Giờ mỗi năm chỉ phơi lại ít lúa ăn trong nhà. Khoảng sân ấy nhiều khi nằm im lìm, chỉ còn nắng trải dài. Tôi về, đứng giữa sân, nghe lòng mình thiếu thiếu một tiếng bàn cào, một tiếng ngoại gọi. Bụi lúa ngày xưa từng làm tôi ngột ngạt, giờ nhớ lại thấy thương đến nghèn nghẹn. Có những thứ mình từng muốn rời xa, đến khi mất đi lại hóa thành ký ức ấm áp.

Sân phơi lúa nhà ngoại không chỉ là chỗ hong khô hạt lúa. Nó dạy tôi biết giá của một chén cơm, biết thương những lưng áo ướt mồ hôi, biết quý một mùa nắng đúng lúc. Nó cũng dạy tôi hiểu rằng đời người như hạt lúa, phải qua nắng gắt, qua mưa dầm, qua những lần suýt mất giá, mới thành hạt gạo trắng tinh trong bữa cơm chiều.

Con rạch nhỏ trước nhà giờ vẫn chảy. Sân xi măng vẫn đó. Chỉ có ngoại không còn ngồi chừng lúa nữa. Nhưng mỗi lần đi ngang, tôi vẫn nghe mùi lúa chín thơm lừng đâu đó trong ký ức. Và tôi biết, dù máy móc có làm đồng ruộng bớt cực nhọc thì một phần đời mình vẫn nằm lại trên cái sân phơi lúa ấy, nơi bụi bay mịt mù, nơi giấc ngủ mùng dã chiến chập chờn, nơi một đứa nhỏ từng hít đầy bụi lúa, mơ về một ngày lớn lên.

AN LÂM