Ông Lê Thanh Dũng (91 tuổi) và bà Nguyễn Thị Sang (84 tuổi) cùng quê ở xã Tân Thạnh. Cả 2 gặp nhau khi cùng hoạt động trong đơn vị Tiểu đoàn 307 thuộc Sư đoàn 330, Quân khu 9. Khi ấy, đất nước còn chìm trong khói lửa của 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Tình yêu nảy nở từ những lần cùng hành quân, cùng chia sẻ gian khổ, rồi được đơn vị tổ chức một đám cưới giản dị giữa rừng. Không hoa cưới, không sính lễ, chỉ có đồng đội chứng kiến và lời hứa gắn bó trọn đời.
Ngày cưới cũng là ngày ông Dũng nhận lệnh ra chiến trường, mang theo ánh mắt tiễn đưa của người vợ trẻ. Cuộc chia tay không nước mắt, không lời hẹn ước rõ ràng vì cả 2 đều hiểu rằng, chiến tranh có thể cướp đi tất cả, kể cả cơ hội gặp lại. Tình yêu đã khiến bà Sang đưa ra một quyết định táo bạo, xin theo chồng ra chiến trường. Từ đó, họ không chỉ là vợ chồng mà còn là đồng đội. Ông Dũng trực tiếp chiến đấu nơi tuyến đầu, còn bà Sang làm du kích, vừa cầm súng đánh giặc vừa âm thầm chăm sóc chồng trong những lúc bị thương, thiếu thốn. Giữa bom đạn khốc liệt, họ nương tựa vào nhau để sống, chiến đấu và giữ trọn niềm tin vào ngày hòa bình.

Ông Lê Thanh Dũng và bà Nguyễn Thị Sang xem lại bức ảnh thời trẻ, gợi nhớ một thời yêu thương và chiến đấu không thể nào quên. Ảnh: ÚT CHUYỀN
Hồi tưởng lại quãng thời gian ấy, bà Sang chậm rãi kể: “Ngày đơn vị tổ chức đám cưới cho chúng tôi cũng là lúc chiến sự đang căng thẳng. Đám cưới chỉ có vài nắm cơm, mấy đồng đội đứng chung vui, vậy mà ấm áp lắm. Thời đó, sợ nhất là mất nhau, nên tôi xin đi theo, vừa đánh giặc vừa chăm sóc ông ấy. Có lúc bom đạn dội xuống, vợ chồng tôi chỉ biết nắm tay nhau mà vượt qua”.
Bà Sang cho biết, ngày đó, mọi thứ đều thiếu thốn, từ lương thực, thuốc men đến chỗ trú ẩn. Bom đạn có thể dội bất cứ lúc nào, nhưng điều bà nhớ nhất không phải là sợ hãi mà là những khoảnh khắc vợ chồng kề vai sát cánh, động viên nhau vượt qua từng trận đánh. “Chính tình yêu và niềm tin giúp tôi mạnh mẽ hơn, biến nỗi lo thành động lực để tiếp tục bước đi. Chỉ cần còn ở bên nhau, còn sống là còn hy vọng”, bà Sang nói.
Biến cố ập đến với bà Sang khi đứa con thứ hai vừa chào đời. Trong một lần làm nhiệm vụ rải truyền đơn, bà Sang không may bị địch bắt và giải về giam giữ ở Cà Mau. Những ngày tháng trong lao tù là chuỗi thử thách khắc nghiệt mà bà phải đối mặt. Bà bị đánh đập, tra khảo dã man. Thân thể đầy thương tích, nhưng trước mọi đòn roi, bà vẫn kiên quyết không hé lộ bất kỳ thông tin nào về đồng đội. Trong sâu thẳm, bà chỉ có một niềm tin duy nhất là phải sống trở về với chồng con. Ông Dũng nhận tin vợ bị bắt mà lòng đau như cắt, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, ông không thể rời đơn vị. Gác lại chuyện gia đình, ông gửi con về quê nhà cho bà ngoại nuôi dưỡng, trong tâm trí ông luôn kiên cường chiến đấu và chờ đợi ngày đoàn tụ.
Suốt 2 năm trong tù, bà Sang sống giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Địch không khai thác được thông tin gì, cuối cùng buộc phải thả bà. Ngày được trả tự do, bà tìm lại chồng và những đứa con thân yêu, khoảnh khắc đoàn tụ sau bao năm xa cách là giây phút không thể nào quên.
Sau ngày trở về từ lao tù, ông Dũng và bà Sang cùng sát cánh trên những chặng đường kháng chiến còn dang dở, cùng vượt qua hiểm nguy, lấy tình yêu và niềm tin làm điểm tựa giữa khói lửa chiến tranh.
Khi tiếng súng ngừng vang, đất nước thống nhất, ông bà trở về quê nhà, bắt đầu lại cuộc sống đời thường với muôn vàn khó khăn. Bằng sự cần cù, chịu thương, chịu khó, họ cùng nhau dựng xây mái ấm, sinh thêm 3 người con. Các con lớn lên trong sự thiếu thốn, đến nay tất cả đều trưởng thành, có cuộc sống ổn định và thành đạt, trở thành niềm tự hào của gia đình.
Với những đóng góp trong 2 cuộc kháng chiến, ông Dũng và bà Sang đều vinh dự được trao tặng Huân chương Kháng chiến. Ở tuổi xế chiều, ông bà vẫn bên nhau, bình dị mà hạnh phúc. Câu chuyện cuộc đời họ không chỉ là một mối tình đẹp mà còn là minh chứng cho sức mạnh của tình yêu, của sự thủy chung son sắt cùng nhau đi qua chiến tranh và nở hoa trong hòa bình.
ÚT CHUYỀN