Đột phá thể chế, khơi thông nguồn lực sáng tạo
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những trụ cột quan trọng trong ba đột phá chiến lược: “đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”; “chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số”. Trong hai năm cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII, hàng loạt quyết sách đổi mới mang tính lịch sử được ban hành, trong đó Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác lập rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia”, nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh.
Điểm nổi bật là sự thay đổi căn bản trong nhận thức và tư duy phát triển. Nếu như trước đây, khoa học, công nghệ chủ yếu được nhìn nhận như một lĩnh vực chuyên ngành, thì trong nhiệm kỳ XIII, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được xác định rõ là động lực chính của phát triển quốc gia, gắn trực tiếp với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh.
Trong hai năm cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII, hàng loạt quyết sách đổi mới mang tính lịch sử được ban hành, trong đó Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác lập rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia”, nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh.
Tư duy quản lý nhà nước chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển; từ chú trọng đầu vào sang coi trọng kết quả đầu ra và tác động thực tiễn; từ tâm lý e ngại rủi ro sang chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới. Đây là bước chuyển có ý nghĩa nền tảng, tạo tiền đề giải phóng tiềm năng sáng tạo trong toàn xã hội, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp.
Trên cơ sở đổi mới tư duy, nhiệm kỳ Đại hội XIII chứng kiến đột phá mạnh mẽ về thể chế khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là sau khi Nghị quyết 57 xác định rõ thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ đạo rà soát, tháo gỡ những mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, sửa đổi kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật và nghiên cứu các vấn đề mới phát sinh để hoàn thiện hành lang pháp lý; đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 10 dự án luật và các nghị quyết quan trọng, đồng thời ban hành đồng bộ hệ thống văn bản dưới luật, tạo ra hệ sinh thái pháp lý thông thoáng, đặc thù cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, làm nền tảng cho phát triển dài hạn. Thể chế từng được coi là điểm nghẽn của điểm nghẽn, nhưng trong nhiệm kỳ qua thể chế được coi là điểm đột phá của những đột phá.
Với nhiều cơ chế đột phá được hình thành, lần đầu tiên đổi mới sáng tạo được đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ; phương thức quản lý chuyển từ đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra; cho phép tổ chức, cá nhân sở hữu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận, miễn giảm thuế thu nhập cá nhân. Định hướng chuyển từ sử dụng sang làm chủ công nghệ chiến lược cũng được xác lập rõ ràng. Kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải đo lường được tác động, đóng góp trực tiếp vào nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế-xã hội. Trong công nghiệp công nghệ số, hành lang pháp lý cho các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, tài sản số từng bước được hoàn thiện, với các chính sách ưu đãi cho dự án trọng điểm, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn trong viễn thông, tần số, tiêu chuẩn, quy chuẩn, sở hữu trí tuệ và năng lượng nguyên tử, nhằm tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới...
Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2024 ước đạt 46,2%, vượt mục tiêu Đại hội XIII đề ra (45%), cho thấy mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Kinh tế số trở thành động lực then chốt, với tỷ trọng kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 20,5% (Đại hội XIII đặt ra mục tiêu 20%); tốc độ phát triển duy trì khoảng 20% mỗi năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Trong các ngành kinh tế chủ lực, công nghiệp công nghệ số nổi lên như ngành công nghiệp nền tảng và động lực tăng trưởng mới, với doanh thu năm 2024 ước đạt 158 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu 132,3 tỷ USD, thu hút khoảng 1,8 triệu lao động và gần 74.000 doanh nghiệp. Công nghiệp phần cứng, điện tử trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam, quy mô xuất khẩu tương đương khoảng 30% GDP, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu điện thoại di động và nằm trong nhóm năm quốc gia sản xuất, cung cấp thiết bị thương mại 5G. Việt Nam cũng vươn lên xếp ở vị trí thứ 7 về Chỉ số vị trí Dịch vụ toàn cầu, trở thành điểm đến gia công phần mềm quan trọng của châu Á.
Trong nông nghiệp, nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt với biến đổi khí hậu được đưa vào sản xuất, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho nông dân. Trong lĩnh vực y-dược, khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định trong làm chủ công nghệ sản xuất vắc-xin, ghép tạng và nhiều kỹ thuật y học hiện đại, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, chuyển đổi số quốc gia được triển khai mạnh mẽ, hình thành đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu số và các nền tảng dùng chung, góp phần quan trọng đổi mới phương thức quản lý nhà nước, tổ chức sản xuất và đời sống xã hội, đồng thời tạo không gian phát triển mới cho doanh nghiệp và người dân.
Một chuyển biến quan trọng khác trong nhiệm kỳ Đại hội XIII là đổi mới sáng tạo lan tỏa ngày càng sâu rộng trong cộng đồng doanh nghiệp. Tính đến năm 2025, 34,6% số doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo, đã cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học, công nghệ cho 962 doanh nghiệp. Khối doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả, tạo việc làm cho hơn 42.000 lao động kỹ thuật cao. Khu vực tư nhân thể hiện vai trò dẫn dắt khi chiếm 98,5% số lượng doanh nghiệp khoa học, công nghệ; hơn 90% kết quả công nghệ được doanh nghiệp tự đầu tư nghiên cứu hoặc mua bằng vốn tư nhân. Doanh nghiệp khoa học, công nghệ đang trở thành lực lượng nòng cốt trong chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tiếp tục được củng cố. Giai đoạn 2021-2023, tổng nhân lực nghiên cứu và phát triển tăng từ 187.298 người lên 207.838 người, trong đó khu vực doanh nghiệp vươn lên chiếm gần 20%, phản ánh rõ định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Công tác phát triển nhân lực số và phổ cập kỹ năng số được triển khai sâu rộng, góp phần hình thành đội ngũ có khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ mới.




Đọc nhiều