Dấu ấn chuyển đổi số của Quốc hội Việt Nam

16/03/2026 - 13:33

Triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Quốc hội Việt Nam đang tích cực đổi mới phương thức hoạt động, từng bước xây dựng "Quốc hội số" hiện đại, chuyên nghiệp và ngày càng gần gũi với cử tri.

Từng bước xây dựng Quốc hội số hiện đại, chuyên nghiệp và ngày càng gần gũi với cử tri.

Từng bước xây dựng "Quốc hội số" hiện đại, chuyên nghiệp và ngày càng gần gũi với cử tri.

Năm 2026 đánh dấu một dấu mốc rất là đặc biệt, đó là 80 năm hình thành và phát triển Quốc hội Việt Nam, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và cũng là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước chúng ta. Trải qua 8 thập kỷ, Quốc hội đã không ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước qua từng giai đoạn lịch sử.

Tại buổi đối thoại với chủ đề “Quốc hội Việt Nam và bước chuyển mạnh mẽ trong kỷ nguyên số” diễn ra chiều 13/3, Tiến sĩ Trần Văn Khải, đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã nhận định, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Những bước chuyển mình của Quốc hội trong hành trình đổi mới và hiện đại hóa, kể từ ngày 6/1/1946 cho đến nay có nhiều dấu ấn trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phải thấy rằng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã đóng góp rất lớn trong quá trình phát triển, nhất là những năm gần đây, đã giúp Quốc hội thay đổi phương thức vận hành.

Trong đó, Quốc hội hiện nay đã chuyển đổi từ quy trình thủ công, hồ sơ giấy sang mô hình dựa trên dữ liệu và quy trình số. Tốc độ xử lý trong các nhiệm vụ của Quốc hội rất nhanh, đáp ứng được yêu cầu của Đảng và Nhà nước hiện nay, giảm được độ trễ về chính sách và nhất là nâng cao được năng suất nghị trường. Đáng chú ý, tư duy mới trong toàn hệ thống Quốc hội hiện nay đã coi dữ liệu là tư liệu sản xuất, công nghệ số là công cụ quản trị cho hoạt động của Quốc hội.

ndo_br_tskhai2.jpg

Tiến sĩ Trần Văn Khải trò chuyện cùng Nhà báo, MC Trần Hữu Việt, Báo Nhân Dân.

Hiện nay, Quốc hội đã họp trực tuyến, biểu quyết điện tử, số hóa tài liệu, bảo đảm hoạt động liên tục. Một trong những dấu ấn là khi đại dịch Covid-19 xảy ra, Quốc hội đã không bị gián đoạn mà hoạt động liên tục thông qua họp trực tuyến, biểu quyết điện tử và cung cấp tài liệu cho đại biểu kịp thời để đưa ra các quyết sách vượt qua đại dịch, tạo hành lang pháp lý cho Chính phủ hành động quyết liệt.

Một dấu mốc đáng quan trọng là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 1343 /NQ-UBTVQH15 về xây dựng và phát triển Quốc hội số giai đoạn 2024-2026, định hướng đến năm 2030. Nghị quyết này xác định lấy người dân, cử tri và đại biểu là trung tâm của chuyển đổi số.

Ông Khải cho hay, hiện nay chúng ta lập pháp tốt hơn, tổng hợp phân tích tra cứu hệ thống pháp luật nhanh hơn dựa trên môi trường số, nhất là sự phối hợp liên thông giữa Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan trong hệ thống chính trị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ vào hoạt động lập pháp, giám sát

Tiến sĩ Trần Văn Khải thông tin, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội được xác định giữ vai trò hết sức quan trọng. Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã giao cho Ủy ban nhiều nhiệm vụ trọng tâm nhằm cụ thể hóa và triển khai hiệu quả nghị quyết này.

coverdacdsqh.png

Trước hết, Ủy ban xác định chuyển đổi số trong Quốc hội phải đi cùng “thể chế hóa” theo tinh thần Nghị quyết 57: Thể chế đi trước một bước, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, chấp nhận thí điểm có kiểm soát và quản trị rủi ro.

Thứ hai, Ủy ban tham mưu trực tiếp để Quốc hội thành lập Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số gắn kết điều hành trong hệ thống lãnh đạo Quốc hội và các Ủy ban. Ủy ban đã tham gia trực tiếp vào cơ chế chỉ đạo thống nhất đó.

Một loạt các dự án luật đã được Ủy ban thẩm tra và khuyến nghị, phản biện sau khi lấy ý kiến nhân dân, các tổ chức chính trị-xã hội, doanh nghiệp.

“Chúng tôi lắng nghe để chuyển thành ý kiến hoàn thiện cho cơ quan soạn thảo, để khi luật ra đời có tính khả thi cao, giải quyết được các "điểm nghẽn" của phát triển kinh tế -xã hội”, ông Khải chia sẻ.

ndo_br_tskhai.jpg

Tiến sĩ Trần Văn Khải.

Hiện nay, Ủy ban cũng giúp Quốc hội chuẩn hóa quy trình, triển khai các công cụ nghiệp vụ lập pháp, giám sát hoàn toàn trên môi trường số. Theo đó, xác định dữ liệu của Quốc hội là tài nguyên trung tâm, bảo đảm liên thông chia sẻ đồng bộ với toàn hệ thống chính trị; ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) có rào chắn nhất định để hỗ trợ tra cứu, tóm tắt, kiểm soát bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm giải trình.

Cũng theo Tiến sĩ Trần Văn Khải, một trong những điểm mạnh nhất khi ứng dụng công nghệ số vào vận hành Quốc hội chính là sự minh bạch và kéo cử tri lại gần hơn với nghị trường, thể hiện qua những điểm nổi bật sau:

Các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các kỳ họp Quốc hội được truyền hình trực tiếp, trực tuyến mở rộng. Cử tri có thể theo dõi theo thời gian thực.

Tài liệu Quốc hội, các dự thảo luật, pháp lệnh được số hóa đầy đủ thành kho dữ liệu có cấu trúc trên nền tảng số. Cử tri có thể vào các cổng dự thảo để tải về, tham gia ý kiến và gửi lại. Có sự tương tác hai chiều thông qua các ứng dụng (App) mà Quốc hội đang vận hành.

Quốc hội tiếp nhận phản ánh của người dân qua App, tạo ra đường đi rõ ràng cho các kiến nghị.

Dữ liệu chính thống được cung cấp để tránh nhiễu loạn thông tin hoặc các thế lực xuyên tạc.

Các phần mềm của Quốc hội được thiết kế dễ dùng, đơn giản để mọi tầng lớp nhân dân, mọi trình độ đều có thể tiếp cận và xây dựng hành lang pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân để tạo niềm tin trong xã hội số.

Hiện nay, Quốc hội luôn đồng hành chặt chẽ cùng cử tri trong việc xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Trước mỗi kỳ họp, các thông tin về chương trình, nội dung dự tính thảo luận đều được công khai trên hệ thống (trừ các nội dung thuộc diện mật), giúp người dân và cử tri kịp thời nắm bắt Quốc hội sẽ bàn thảo những vấn đề gì, từ đó theo dõi, góp ý và giám sát hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Tiến sĩ Trần Văn Khải

“Hiện nay, Quốc hội luôn đồng hành chặt chẽ cùng cử tri trong việc xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Trước mỗi kỳ họp, các thông tin về chương trình, nội dung dự tính thảo luận đều được công khai trên hệ thống (trừ các nội dung thuộc diện mật), giúp người dân và cử tri kịp thời nắm bắt Quốc hội sẽ bàn thảo những vấn đề gì, từ đó theo dõi, góp ý và giám sát hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”, ông Khải thông tin.

Những dấu ấn nổi bật trong chuyển đổi số của Quốc hội

Trong cuộc đối thoại, Tiến sĩ Trần Văn Khải cho rằng, có rất nhiều dấu ấn nổi bật trong chuyển đổi số của Quốc hội, nhưng có thể điểm lại một số mốc quan trọng cụ thể gồm:

Dấu ấn thứ nhất là “thiết kế thể chế và cơ chế điều hành”: Quốc hội ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển Quốc hội số; kiện toàn cơ chế chỉ đạo chuyển đổi số để bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong toàn hệ thống Quốc hội.

Dấu ấn thứ hai là “hạ tầng-chữ ký số-liên thông”: Nghị quyết về Quốc hội số đặt mục tiêu tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng hạ tầng số/điện toán đám mây có dự phòng cao; 100% đại biểu, cán bộ được trang bị chữ ký số; kết nối Trục liên thông văn bản quốc gia.

Dấu ấn thứ ba là “quy trình số và AI hỗ trợ nghiệp vụ”: mục tiêu 100% quy trình nghiệp vụ thực hiện trên môi trường số và ứng dụng AI hỗ trợ nghiệp vụ chuyên môn đã được xác định rõ trong lộ trình Quốc hội số.

Dấu ấn thứ tư là “phòng họp không giấy”: Quốc hội triển khai/vận hành thử nghiệm hệ thống phòng họp không giấy tờ (Q-Cabinet), phục vụ tổ chức họp trên môi trường số và tổng hợp ý kiến nhanh.

Dấu ấn thứ năm là “hệ sinh thái ứng dụng phục vụ đại biểu và cơ quan Quốc hội”: các phần mềm quản lý văn bản-điều hành, App phục vụ đại biểu (Quốc hội 2.0), hệ thống gỡ băng, quản lý kiến nghị cử tri, quản lý hoạt động giám sát, và cả phần mềm phục vụ bầu cử đã được nhắc đến như danh mục triển khai nổi bật.

Dấu ấn thứ sáu là “năng lực thích ứng trong tình huống đặc biệt”: Việc tổ chức họp trực tuyến/kết hợp và duy trì hoạt động nghị trường trong điều kiện dịch bệnh là minh chứng cho hiệu quả của đổi mới dựa trên công nghệ.

Để hoàn thiện khung khổ pháp lý cho chuyển đổi số, Tiến sĩ Trần Văn Khải nhấn mạnh, giai đoạn 2026-2031 là giai đoạn “tăng tốc”, do đó, tập trung trọng tâm vào các nội dung chuẩn hóa dữ liệu, an toàn thông tin và tính tương thích, cân bằng giữa khai thác và bảo vệ dữ liệu quốc gia.

Hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế số, xã hội số và hệ sinh thái đổi mới

Đề cập tới ý nghĩa của việc ban hành các đạo luật đối với kinh tế số, xã hội số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Tiến sĩ Trần Văn Khải nhấn mạnh ý nghĩa “tạo nền pháp lý đồng bộ theo chuỗi”: Giao dịch và niềm tin số (Luật Giao dịch điện tử); hạ tầng kết nối (Luật Viễn thông); quản trị dữ liệu (Luật Dữ liệu); bảo vệ quyền riêng tư - tăng niềm tin xã hội số (Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân).

Theo đó, Luật Chuyển đổi số tạo khung khái niệm và nhiệm vụ cho chuyển đổi số ở tầm quốc gia (điều chỉnh nguyên tắc/chính sách; biện pháp bảo đảm; trách nhiệm các chủ thể), giúp “thống nhất ngôn ngữ” và cách đo lường hiệu quả chuyển đổi số.

Song song, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và Nghị quyết 57 cùng khẳng định tư duy quản trị mới: khuyến khích đổi mới, chấp nhận rủi ro có kiểm soát; tạo cơ chế thí điểm/sandbox; coi doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Giai đoạn 2026-2031 là giai đoạn “tăng tốc”, do đó, tập trung trọng tâm vào các nội dung chuẩn hóa dữ liệu, an toàn thông tin và tính tương thích, cân bằng giữa khai thác và bảo vệ dữ liệu quốc gia.

Tiến sĩ Trần Văn Khải.

Còn Nghị quyết 193/2025/QH15 (thí điểm cơ chế, chính sách đặc biệt) và chương trình hành động của Chính phủ là “cầu nối triển khai” để các chủ trương của Nghị quyết 57 đi vào thực tiễn, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế/tài chính/đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Cùng với đó, Luật sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ góp phần hoàn thiện cơ chế đưa công nghệ vào sản xuất-kinh doanh, thúc đẩy hấp thụ và lan tỏa công nghệ, qua đó hỗ trợ trực tiếp cho năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế số.

“Về tổng thể, các đạo luật này làm rõ “luật chơi” cho thị trường số, giảm rủi ro pháp lý, tăng khả năng thu hút đầu tư vào công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo nền cho quản trị nhà nước hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ liệu”, Tiến sĩ Khải chỉ rõ.

Khuyến nghị, đề xuất để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo tinh thần Nghị quyết 57, Tiến sĩ Trần Văn Khải nêu bật, ưu tiên số một là tiếp tục “đổi mới tư duy làm luật” theo hướng luật phải vừa bảo đảm quản lý nhà nước vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, mở đường cho thí điểm, sandbox và cơ chế miễn trừ trách nhiệm có điều kiện.

Đồng thời, thiết kế pháp luật theo hướng “càng số càng phải có chuẩn”: Chuẩn dữ liệu, tiêu chuẩn an toàn thông tin, nguyên tắc tương thích-liên thông-chia sẻ; gắn trách nhiệm giải trình với vòng đời dữ liệu và vòng đời thuật toán/AI trong khu vực công.

cds-qh.jpg

Kế thừa từ nhiệm kỳ trước về xây dựng Quốc hội điện tử, Quốc hội khóa XV đã nâng cấp, triển khai ứng dụng “Quốc hội 2.0” với cải tiến vượt bậc, nhiều tiện ích mới.

Thêm vào đó, cần thể chế hóa mạnh hơn cơ chế huy động nguồn lực: Theo chương trình hành động của Chính phủ, triển khai nhiệm vụ cụ thể để các bộ/ngành/địa phương tổ chức thực hiện Nghị quyết 57 đồng thời Quốc hội tăng cường giám sát thực thi và hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Hơn nữa, cũng cần hoàn thiện “hệ sinh thái pháp lý cho dữ liệu”: Phối hợp đồng bộ Luật Dữ liệu với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các luật chuyên ngành, bảo đảm cân bằng giữa khai thác dữ liệu phục vụ phát triển và bảo vệ quyền của công dân, tạo niềm tin cho kinh tế số.

Cạnh đó, cần tăng cường năng lực lập pháp dựa trên bằng chứng: Phát triển công cụ số/AI hỗ trợ đánh giá tác động, rà soát chồng chéo, pháp điển hóa; đồng thời học hỏi thực hành tốt về chuyển đổi số nghị viện do IPU khuyến nghị.

Ngoài ra, cũng cần đặt an ninh mạng và an ninh dữ liệu là yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ chu trình làm luật và giám sát, đúng tinh thần Nghị quyết 57: Không “đổi số bằng mọi giá”, mà “đổi số an toàn”.

Cuối cùng là, tham chiếu khung quản trị số hiện đại (thí dụ OECD) để hoàn thiện nguyên tắc quản trị dữ liệu, quản trị dịch vụ số lấy người dân/doanh nghiệp làm trung tâm, đo lường hiệu quả và năng lực thực thi.

Theo Nhân Dân