
Nghệ nhân Neáng Phương vừa làm bánh Kà tum vừa giới thiệu các công đoạn chế biến cho du khách.
Kỳ công trong từng chiếc bánh
Buổi sáng trong căn bếp nhỏ, đôi bàn tay đã hằn dấu thời gian của bà Neáng Phương vẫn thoăn thoắt đan từng sợi lá thốt nốt thành những chiếc vỏ bánh vuông vức. Chỉ vài phút sau, chiếc bánh Kà tum dần hình thành, phần miệng được thắt khéo léo như một bông hoa nhỏ. Ít ai biết rằng để có được sự thuần thục ấy, người phụ nữ Khmer này đã dành hơn 40 năm gắn bó với nghề.
Bà Phương bắt đầu học làm bánh từ năm 16 tuổi. Nghề được mẹ và những người lớn trong gia đình truyền lại như cách đồng bào Khmer gìn giữ bản sắc qua từng thế hệ. Đến nay, bà vẫn đều đặn nhóm lửa mỗi ngày để làm nên những chiếc bánh mang đậm hương vị quê hương.
Theo bà Phương, trong tiếng Khmer, “Kà tum” có nghĩa là trái lựu - biểu tượng của sự viên mãn, sung túc và đủ đầy. Vì thế, từ lâu, loại bánh này luôn hiện diện trong các dịp Tết Chôl Chnăm Thmây, Sene Đôn ta, Ok Om Bok, lễ cúng hay những bữa cơm đãi khách của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Đan vỏ bánh bằng lá thốt nốt là công đoạn khó nhất, quyết định vẻ đẹp và chất lượng của bánh Kà tum.
Nhìn chiếc bánh nhỏ nhắn, ít ai hình dung phía sau là cả một quá trình làm nghề đầy công phu. Vài ngày trước khi gói bánh, bà Phương đã phải đặt người hái lá thốt nốt. Lá dùng để làm bánh phải được chọn rất kỹ, không quá non cũng không quá già. Lá quá non sẽ mềm, dễ rách; còn quá già lại cứng, khó tạo hình. Chỉ những tàu lá vừa đủ độ non, đủ độ dai mới có thể đan thành chiếc vỏ bánh đẹp mắt. Đó cũng là công đoạn khó nhất.
Từng sợi lá được chuốt thẳng, đan đều rồi thắt thành hình trái lựu. Người làm phải căn lực tay vừa đủ. Nếu thắt quá chặt, bánh sẽ lâu chín; còn thắt quá lỏng, nước sẽ ngấm vào bên trong khiến bánh bị mềm, mất đi độ dẻo thơm. “Vỏ bánh phải kín nhưng không được cứng. Chỉ cần mạnh hoặc nhẹ tay một chút là chiếc bánh không còn đạt nữa”, bà Phương vừa nói, vừa khéo léo siết nút thắt cuối cùng.

Bà Neáng Phương cẩn thận cho nhân bánh gồm nếp, đậu trắng và dừa nạo vào vỏ bánh Kà tum trước khi buộc kín để hấp chín.
Không chỉ phần vỏ, nhân bánh cũng được chuẩn bị cẩn thận. Nếp được vo sạch, ngâm trước khi trộn cùng đậu trắng đã luộc chín, dừa khô nạo, thêm chút muối và đường theo tỷ lệ vừa đủ. Sau khi cho nhân vào, bánh được buộc kín rồi đưa vào nồi hấp khoảng 45 phút. Khi mở nắp, hương thơm của lá thốt nốt hòa quyện với vị dẻo của nếp, vị béo của dừa và đậu trắng, tạo nên hương vị rất riêng mà khó loại bánh nào có được.
“Bánh Kà tum gửi gắm ước vọng về cuộc sống trọn vẹn, sung túc và đủ đầy. Gia đình tôi thường đặt bánh của chị Phương vào các dịp lễ, tết hoặc khi có khách. Bánh ngon, đẹp mắt nên ai cũng thích”, bà Neáng Hiếp, ngụ xã Ô Lâm, chia sẻ.
Giữ nghề, giữ hồn văn hóa
Giữa nhịp sống hiện đại, chiếc bánh truyền thống ấy vẫn tìm được chỗ đứng, không chỉ trong đời sống cộng đồng mà còn theo chân người dân đến các điểm du lịch. Mỗi ngày, chị Neáng Phuông lấy bánh từ cơ sở của bà Phương để bán cho du khách.
“Tôi lấy của cô Phương 50.000 đồng một chục rồi bán 70.000 đồng một chục. Lợi nhuận tuy không nhiều nhưng đủ nuôi các con ăn học. Du khách thích lắm vì bánh vừa ngon vừa lạ, lại mang đậm bản sắc của đồng bào Khmer”, chị Phuông cho biết.
Không ít du khách cũng tìm đến chỉ để được một lần thưởng thức loại bánh nổi tiếng của vùng Bảy Núi. Cầm chiếc bánh Kà tum trên tay, chị Thạch Thị Sa Ry, du khách đến từ tỉnh Vĩnh Long, nói: “Tôi nghe nói về bánh này lâu rồi. Lần này đến An Giang, tôi quyết tâm tìm để thưởng thức. Bánh không chỉ ngon mà còn được gói rất đẹp, nhìn vào là thấy sự khéo léo của người làm".

Mỗi chiếc bánh Kà tum không chỉ là món ăn dân gian mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Ngày thường, bà Phương làm hơn 100 chiếc bánh. Đến các dịp Tết cổ truyền Khmer hay lễ hội truyền thống, cả gia đình gần như làm việc liên tục để kịp giao gần 1.000 chiếc theo đơn đặt hàng. Năm 2016, bánh Kà tum của bà được trao huy chương vàng tại Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ. Với bà, đó không chỉ là niềm tự hào của riêng bà mà còn là sự ghi nhận dành cho một món bánh truyền thống của đồng bào Khmer.
Điều khiến bà trăn trở hơn cả là ngày càng ít người trẻ còn đủ kiên nhẫn học nghề. “Bánh Kà tum là cả một kỳ công, không phải ai cũng làm được. Tôi chỉ mong có nhiều chị em trẻ đến học để giữ lấy nét đặc sắc này. Đó không chỉ là một món bánh mà còn là một phần hồn cốt văn hóa Khmer. Giữ được nghề cũng là giữ được ký ức và niềm tự hào của dân tộc”, bà Phương bộc bạch.
Chiều xuống, những mẻ bánh mới lại lần lượt ra lò. Trong căn bếp nhỏ, người bà Phương ngồi bên những tàu lá thốt nốt, cần mẫn đan từng chiếc vỏ bánh như đã làm suốt hơn bốn thập kỷ. Từ đôi bàn tay người phụ nữ Khmer ấy, bánh Kà tum không chỉ giữ nguyên hương vị của một món ăn dân gian mà còn tiếp tục kể câu chuyện về bản sắc, về ký ức và sức sống bền bỉ của văn hóa vùng Bảy Núi.
Bài và ảnh: DANH THÀNH