-(1).jpg)
Nông dân xã Tân Hiệp cuộn rơm bán cho thương lái và ủ trồng nấm giúp gia tăng giá trị. Ảnh: AN LÂM
Trên những cánh đồng lúa sau mỗi mùa gặt, rơm rạ phủ kín mặt ruộng. Ông Trần Thanh Đoàn, ngụ xã Tân Hiệp nói: “Vào mùa nắng, rơm khô thương lái có thể thuê cuộn với giá khoảng 50.000 đồng/công. Tuy nhiên, vào mùa mưa, rơm ướt khó thu gom, bảo quản, nhiều khi không có người mua”. Theo ông Đoàn, khó khăn càng rõ vào thời điểm lúa chín rộ. Máy móc phải chạy đua với thời tiết, diện tích thu hoạch lớn trong khi việc thu gom rơm không theo kịp tiến độ. Rơm còn lại trên ruộng vừa gây trở ngại cho khâu làm đất, xuống giống, tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc hữu cơ nếu phân hủy không phù hợp trong điều kiện ruộng ngập nước. Vì vậy, nông dân không chỉ lo mất đi nguồn thu từ rơm mà còn áp lực xử lý phụ phẩm để kịp thời vụ. Khi việc thu gom phụ thuộc vào thời tiết và nhu cầu của thương lái, người sản xuất vẫn thiếu một phương án chủ động, ổn định.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang Trần Thanh Hiệp, sản lượng lúa hàng hóa của tỉnh hằng năm khoảng 8,4 triệu tấn, kéo theo lượng lớn rơm rạ phát sinh. Tuy nhiên, giai đoạn 2024 - 2025, tỷ lệ rơm được thu gom, xử lý bằng chế phẩm và chế biến tái sử dụng chỉ đạt khoảng 30%. Con số này cho thấy tiềm năng tận dụng phụ phẩm vẫn còn rất lớn. “Thay vì xem rơm rạ là thứ cần xử lý sau thu hoạch, ngành nông nghiệp định hướng khai thác nguồn nguyên liệu này để trồng nấm, sản xuất phân hữu cơ, cải tạo đất và phục vụ những hoạt động sản xuất phù hợp”, ông Trần Thanh Hiệp cho biết.
Một hướng đi cụ thể đang được triển khai tại Hợp tác xã nông nghiệp Thạnh Hòa, xã Thạnh Lộc thông qua mô hình trồng nấm rơm thuộc dự án “Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long” (TRVC). Tham gia mô hình, ông Lê Thanh Hoàng cùng 3 hộ nông dân khác ở xã Thạnh Lộc tận dụng rơm sau thu hoạch làm nguyên liệu trồng nấm. Mỗi mô hình sử dụng khoảng 500 cuộn rơm, tương đương 10 tấn, trải qua các công đoạn làm ẩm, ủ rơm, xếp mô, cấy meo giống và chăm sóc theo quy trình kỹ thuật.

Nông dân xã Tân Hiệp cuộn rơm bán cho thương lái. Ảnh: AN LÂM
Ông Hoàng cho biết: “Với 10 tấn rơm nguyên liệu, sản lượng nấm dự kiến đạt khoảng 720kg, giá bán bình quân 70.000 đồng/kg. Doanh thu từ nấm ước đạt 50,4 triệu đồng, thêm khoảng 1 triệu đồng giá trị phụ phẩm sau trồng nấm, tổng doanh thu dự kiến 51,4 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận ước đạt gần 19,28 triệu đồng trên mỗi mô hình”. Những con số này cho thấy tiềm năng tạo giá trị từ rơm rạ nếu được tổ chức thành một hoạt động sản xuất có đầu vào, quy trình kỹ thuật và đầu ra rõ ràng.
Với ông Hoàng và các hộ tham gia, mô hình trồng nấm rơm thuộc dự án TRVC mở thêm hướng sử dụng phụ phẩm sau mùa lúa thay vì chỉ trông chờ vào việc bán rơm cho thương lái. Không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mô hình còn góp phần giảm lượng rơm phải xử lý ngoài đồng. Theo Ban quản lý dự án TRVC, 4 mô hình tại Hợp tác xã nông nghiệp Thạnh Hòa đã tận dụng khoảng 40 tấn rơm rạ; phần phụ phẩm sau trồng nấm tiếp tục được định hướng sử dụng để sản xuất phân compost, mở rộng vòng tuần hoàn của nguồn nguyên liệu.
.jpg)
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tham quan mô hình tận dụng rơm rạ làm nấm của thành viên Hợp tác xã nông nghiệp Thạnh Hòa thuộc dự án TRVC. Ảnh: AN LÂM
Để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài, bài toán thu gom vẫn cần được giải quyết. Mùa mưa khó bảo quản rơm, chi phí vận chuyển có thể tăng nếu vùng nguyên liệu xa nơi sản xuất. Trồng nấm ngoài trời lại chịu ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm. Bên cạnh kỹ thuật, nông dân còn cần vốn, mặt bằng, thiết bị và thị trường tiêu thụ ổn định.
Ông Trần Thanh Hiệp cho rằng quản lý rơm rạ không chỉ dừng ở mục tiêu hạn chế đốt rơm rạ gây ô nhiễm không khí mà cần hình thành chuỗi giá trị với sự liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Cùng với mô hình trồng nấm, tỉnh cũng triển khai hướng xử lý rơm tại chỗ, kết hợp cày vùi và quản lý nước ở những khu vực khó thu gom, vận chuyển.
Hiện nông dân mong muốn có thêm lựa chọn để chủ động xử lý rơm sau mỗi vụ lúa, giảm chi phí và tạo nguồn thu ổn định hơn. Khi được tổ chức thu gom và sử dụng hợp lý, rơm rạ không còn đơn thuần là phụ phẩm nằm lại trên đồng mà có thể trở thành nguyên liệu cho sinh kế mới, góp phần xây dựng nền nông nghiệp tỉnh theo hướng tuần hoàn, phát thải thấp và bền vững.
AN LÂM