.jpg)
Nông dân xã Châu Thành ứng dụng cơ giới vào thu hoạch lúa. Ảnh: CẨM TÚ
Trước áp lực từ biến đổi khí hậu, cạnh tranh thị trường gay gắt và yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng nông sản, việc ứng dụng KHCN trở thành xu hướng tất yếu. Tỉnh xác định phát triển KHCN là khâu đột phá để nâng cao giá trị sản xuất, tăng chất lượng nông sản và cải thiện thu nhập cho người dân. Từ định hướng này, tỉnh tập trung nguồn lực đầu tư vào các mô hình sản xuất tiên tiến, gắn nghiên cứu với thực tiễn đồng ruộng.
Nhiều giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, thích ứng tốt với khí hậu và thổ nhưỡng địa phương được đưa vào sản xuất đại trà. Sau quá trình khảo nghiệm, các bộ giống mới thuộc lĩnh vực trồng trọt, thủy sản, lâm nghiệp đều thể hiện ưu thế về khả năng kháng bệnh, chịu thời tiết khắc nghiệt và mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Mô hình nông nghiệp sinh thái và hữu cơ cũng được triển khai toàn diện. Những giải pháp đồng bộ từ việc dùng vi sinh vật bản địa cải tạo đất bạc màu, chế biến phụ phẩm thành phân bón đến nhân rộng hệ thống tưới tiết kiệm góp phần bảo vệ môi trường.
Sự phát triển của ngành chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao góp phần cải thiện năng suất, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm, đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương. Tỉnh công nhận 5 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gồm: Trung Sơn Kiên Giang, vùng lúa Trung An Kiên Giang, nuôi trồng thủy sản Minh Phú Kiên Giang, chuối VIFABA, vùng nuôi trồng thủy sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nuôi trồng thủy sản Nam Việt - Bình Phú (Châu Phú).
Trồng trọt công nghệ cao cũng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Các mô hình nhà lưới, nhà màng, tưới nhỏ giọt, cảm biến độ ẩm được triển khai tại các xã, phường, đặc khu. Không dừng lại ở việc sản xuất rau màu, nhiều địa phương còn tập trung phát triển vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn xuất khẩu.
Tuy nhiên, việc ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp vẫn đối mặt với không ít rào cản. Trên thực tế, quy mô ứng dụng tại các hộ dân còn nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết vùng và đồng bộ. Không ít tiến bộ kỹ thuật dù được nghiên cứu thành công nhưng vẫn chưa áp dụng vào thực tiễn vì thiếu cơ chế chuyển giao, thiếu đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật cơ sở. Mặt khác, trình độ tiếp cận công nghệ của một bộ phận nông dân còn hạn chế, khiến việc vận hành máy móc, thiết bị gặp khó khăn.
Theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Võ Minh Trung, để những định hướng chiến lược thực sự đi vào đời sống sản xuất, thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh, các sở, ngành liên quan từng bước hoàn thiện hệ sinh thái ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp. Trọng tâm là xây dựng môi trường thuận lợi cả về chính sách, nguồn lực và kết nối, giúp nông dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, ứng dụng và phát huy hiệu quả của các tiến bộ kỹ thuật.
An Giang chú trọng hoàn thiện thể chế, chính sách, trong đó ưu tiên ban hành cơ chế đặt hàng nghiên cứu gắn liền với thực tiễn sản xuất. Giải pháp này đảm bảo các đề tài khoa học bám sát nhu cầu thực tế, tạo động lực đổi mới sáng tạo mạnh mẽ tại các viện, trường và trung tâm nghiên cứu. Các chính sách hỗ trợ về tín dụng, đất đai, thuế được triển khai đồng bộ nhằm khuyến khích phát triển các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Quy hoạch, phát triển vùng sản xuất tập trung được xem là bước đi quan trọng, tỉnh quan tâm đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, giao thông, thủy lợi tại các vùng nguyên liệu lớn nhằm tạo điều kiện tối ưu để thu hút doanh nghiệp đầu tư dài hạn, thúc đẩy nông dân phát triển sản xuất quy mô lớn, chuẩn hóa và bền vững.
Nông nghiệp hiện đại không chỉ là đổi mới phương thức sản xuất mà cốt lõi là chuyển đổi tư duy của nông dân. Khi KHCN được tiếp cận và ứng dụng bài bản thông qua đào tạo, nông nghiệp mới phát triển bền vững.
CẨM TÚ