Gỡ vướng toàn diện từ hạ tầng, sản phẩm đến thị trường
Nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) đang chủ động, quyết liệt tham mưu xây dựng Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ VH-TT-DL Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt là chuyển dịch tư duy từ quản lý sang kiến tạo và đồng hành. Nhà nước giữ vai trò tạo lập khung chính sách thông thoáng, phân bổ lại nguồn lực hợp lý, từ đó kích hoạt tối đa các nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn vốn, trí tuệ và năng lực quản trị từ các tập đoàn tư nhân và cộng đồng doanh nghiệp du lịch.

Du lịch Việt Nam đang nắm giữ thời cơ vàng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế
Cụ thể, cơ quan nghiên cứu đã đưa ra 7 nhóm chính sách lớn với 21 vấn đề then chốt. Trước hết là nhóm chính sách ưu đãi vượt trội dành cho các dự án đầu tư du lịch. Các dự án chiến lược này được đề xuất thời hạn hoạt động kéo dài tới 70 năm, áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Đặc biệt, tại các địa bàn khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, các ngưỡng yêu cầu về quy mô vốn và lao động đều được giảm bớt một nửa nhằm khuyến khích doanh nghiệp tìm về các vùng sâu, vùng xa, vừa phát triển du lịch vừa đảm bảo an sinh xã hội.
Nhóm chính sách thứ hai tập trung tháo gỡ trực tiếp các gánh nặng chi phí vận hành cho cơ sở lưu trú và lữ hành. Dự thảo đề xuất giảm tối đa 30% tiền thuê đất hằng năm cho phần diện tích cảnh quan, cây xanh, mặt nước, không gian chung không trực tiếp kinh doanh tại các khách sạn, khu nghỉ dưỡng từ 4 sao trở lên có mật độ xây dựng gộp dưới 25%. Đồng thời, giao quyền chủ động cho chính quyền địa phương trong ban hành cơ chế hỗ trợ tài chính để hãng hàng không mở các đường bay quốc tế mới, cũng như thiết lập các hợp đồng liên kết tiêu thụ dài hạn cho sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương.
Đối với nhóm chính sách thứ ba và thứ tư, dự thảo mở ra khung pháp lý thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình kinh doanh mới như du lịch xanh, du lịch tuần hoàn, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch ven sông, ven biển và các nền tảng du lịch số. Các mô hình đáp ứng tiêu chuẩn đổi mới sáng tạo có thể được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm. Đáng chú ý, các tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, giải trí đêm được thí điểm hoạt động 24/7 với thủ tục hành chính rút gọn và cấp phép một lần. Để nâng cao chất lượng dịch vụ, dự thảo đề xuất giảm 50% thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm cho các chuyên gia và nhân lực chất lượng cao trong ngành du lịch, đồng thời hỗ trợ 30% kinh phí đào tạo và bố trí quỹ đất xây nhà ở cho lao động du lịch.
Cuối cùng, 3 nhóm chính sách về thị thực, du lịch cộng đồng và tín dụng hứa hẹn tạo nên sức bật đồng bộ cho toàn ngành. Dự thảo đặt mục tiêu nới lỏng chính sách visa về thời hạn, số lần nhập cảnh và sự tiện lợi cho du khách từ các thị trường trọng điểm, khách chi tiêu cao, du khách MICE và những người làm việc từ xa (digital nomad), dựa trên nguyên tắc cân bằng giữa hạ tầng du lịch và an ninh quốc gia.
Bên cạnh đó, các chính sách ưu tiên phát triển hạ tầng kết nối, bảo tồn văn hóa cho du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, kết hợp chính sách tín dụng xanh, quỹ bảo lãnh tín dụng do Bộ VH-TT-DL phối hợp Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu triển khai, sẽ mang lại nguồn vốn giá rẻ cho doanh nghiệp phục hồi và mở rộng kinh doanh.
Khát vọng lớn cần năng lực thực thi tương xứng
TS Phạm Hà - nhà sáng lập, Chủ tịch kiêm CEO LuxGroup - đánh giá cao sự chủ động của Bộ VH-TT-DL trong việc chuyển những vướng mắc của doanh nghiệp thành nội dung thiết kế chính sách. Tinh thần kiến tạo thể hiện ở việc xác định đúng điểm nghẽn, mở không gian kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư dài hạn.
Theo ông Phạm Hà, 7 nhóm chính sách nói trên tiếp cận khá toàn diện chuỗi giá trị du lịch, từ đầu tư, hàng không, lưu trú đến nhân lực, thị thực, cộng đồng và mô hình kinh doanh mới. Đáng chú ý là sự quan tâm đến kinh tế đêm, du lịch xanh, du lịch sông, biển và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng tạo thêm giá trị cho điểm đến. Nghị quyết 26 củng cố niềm tin để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào chất lượng, văn hóa và giá trị gia tăng.

Các đề xuất chính sách mới được kỳ vọng tạo bệ phóng vững chắc để du lịch Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ
Nếu các cơ chế đặc thù được thông qua và triển khai đồng bộ, ông Hà kỳ vọng 3 động lực có thể phát huy tác dụng sớm: Đầu tiên, thị thực thuận tiện đi cùng đường bay và xúc tiến thị trường. Khi khách dễ đến, dễ di chuyển và có thông tin rõ ràng, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong chuyển nhu cầu thành đơn đặt hàng. Muốn khách ở lâu, chúng ta phải có hành trình hấp dẫn và dịch vụ xứng đáng.
Tiếp đến, mở không gian cho kinh tế đêm, du lịch văn hóa và du lịch sông, biển. Một hành trình du thuyền kết hợp ẩm thực, nghệ thuật và di sản có thể tạo doanh thu cho nhiều ngành, đồng thời tăng chi tiêu trên mỗi khách. Điều cần tháo gỡ sớm là quy định về bến, tuyến, khung giờ và thủ tục vận hành. Cuối cùng là các chính sách hỗ trợ vốn và chuyển đổi cho doanh nghiệp hiện hữu. Nhà nước cần tạo cơ hội cho doanh nghiệp nâng cấp sản phẩm, đào tạo nhân lực, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi xanh. Đây là lực lượng đã có khách hàng, đội ngũ và khả năng đưa sản phẩm ra thị trường sớm. Khi chính sách tạo cơ hội, doanh nghiệp có trách nhiệm chuyển cơ hội thành sản phẩm, việc làm và tăng trưởng.
Để nghị quyết cơ chế đặc thù trở thành khung chính sách bền vững, TS Phạm Hà cho rằng điều quyết định là tổ chức thực hiện. Du khách trải nghiệm một hành trình thống nhất, trong khi doanh nghiệp phải làm việc với nhiều cơ quan. Vì vậy, phối hợp liên ngành cần được cụ thể hóa bằng đầu mối, thời hạn và trách nhiệm.
"Khát vọng lớn cần năng lực thực thi tương xứng. Chính sách chỉ thực sự thành công khi doanh nghiệp triển khai được, người dân hưởng lợi và điểm đến nâng được sức cạnh tranh", ông Phạm Hà nêu quan điểm.
Là người đã có nhiều thập niên trực tiếp tham gia nghiên cứu, xây dựng những chính sách quan trọng cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam, PGS-TS Phạm Trung Lương kỳ vọng trong 7 nhóm chính sách tại dự thảo nghị quyết, đặc biệt là cơ chế mở visa sẽ sớm được hiện thực hóa. Bởi visa chính là "cánh cửa đầu tiên" quyết định khả năng cạnh tranh quốc tế của du lịch Việt Nam. Việc tháo gỡ rào cản visa sẽ tạo điều kiện trực tiếp thu hút dòng khách chất lượng cao, gia tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách.
Cùng với đó, PGS-TS Phạm Trung Lương đề nghị bổ sung 2 nội dung mang tính nền tảng và có tính hệ thống cao vào bộ chính sách: Đầu tiên là phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đây là điểm nghẽn lớn nhất của một ngành kinh tế mũi nhọn - thiếu hụt nhân lực chất lượng cao và hạ tầng đào tạo bài bản.
Tiếp đến là kết nối hạ tầng giao thông và thể chế mở đường bay. Về hàng không, cần có cơ chế cởi mở, trao quyền hoặc tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân tự do tham gia kết nối, mở các đường bay thẳng từ các thị trường nguồn quốc tế. Về đường bộ, hạ tầng giao thông nối từ các trung tâm tăng trưởng đến các khu du lịch quốc gia hiện vẫn còn nhiều bất cập. Việc gia tăng số lượng các khu du lịch tiềm năng sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng giao thông đồng bộ để du khách dễ dàng tiếp cận.
|
Hơn lúc nào hết, ngành du lịch đang rất cần sự quyết liệt, đồng bộ và tinh thần cầu thị thực sự từ các cơ quan chức năng để cụ thể hóa các nhóm chính sách thành hành động thực tế, biến những mục tiêu trên giấy thành hiện thực, nhằm tránh lãng phí những tài nguyên vô giá của du lịch Việt Nam.
PGS-TS Phạm Trung Lương
|
Theo Báo Thanh Niên