.jpg)
Thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp Thạnh Tiến, xã Giồng Riềng phấn khởi vì sản xuất lúa làm theo hướng hữu cơ giúp tăng lợi nhuận.
Tại An Biên, ông Danh Tươi, ngụ ấp Xẻo Đước chuyển sang sử dụng men vi sinh ủ với mật rỉ đường để xử lý môi trường ao nuôi tôm. Theo ông Tươi, cách làm này giúp môi trường nước ổn định, tôm ít bệnh, đồng thời giảm khoảng 30% chi phí so với sử dụng hóa chất trước đây. “Chi phí giảm, tôm phát triển tốt hơn nên hiệu quả nuôi cũng cao hơn”, ông Tươi cho biết.
Theo các hộ nuôi tôm, hóa chất thường cho tác dụng nhanh nhưng nếu sử dụng không đúng cách có thể làm môi trường ao biến động. Chế phẩm vi sinh tác động chậm hơn nhưng giúp phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước và duy trì môi trường ao ổn định. Men vi sinh sau khi mua về còn có thể ủ, nhân sinh khối để sử dụng nhiều lần, qua đó tiếp tục giảm chi phí đầu vào.
.jpg)
Thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp Thạnh Tiến, xã Giồng Riềng (An Giang) kiểm tra lúa sản xuất theo hướng hữu cơ.
Tại xã Châu Thành, bà Ngụy Thị Nghính, ngụ ấp Bình Lạc cũng giảm đáng kể chi phí sản xuất sau khi chuyển sang sử dụng phân hữu cơ tự ủ cho 2ha khóm, cau, dừa. Trước đây, gia đình bà phải chi khoảng 40 triệu đồng mỗi năm để mua phân bón hóa học. Nhận thấy đất canh tác ngày càng bạc màu, cây khóm thường phát sinh bệnh, trong khi giá phân bón tăng, năm 2020, vợ chồng bà bắt đầu tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để ủ phân hữu cơ.
Gia đình đầu tư nhà kho, máy nghiền, hầm ủ phân vi sinh, máy trộn và thiết bị đóng bao. Phân sau khi ủ được sử dụng cho vườn, phần dư bán ra thị trường với giá 60.000 đồng/bao 20kg. Theo bà Nghính, việc sử dụng phân bón hữu cơ giúp gia đình giảm hơn 50% chi phí sản xuất. Quan trọng hơn, đất được cải tạo, cây khóm khỏe, ít nấm bệnh, thời gian khai thác kéo dài và trái có vị ngọt hơn. “Sử dụng phân bón hữu cơ đất được trả lại dinh dưỡng, cây khỏe thì mình giảm được nhiều khoản chi”, bà Nghính nói.
Những kết quả bước đầu cũng được ghi nhận tại các mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ. Tại Hợp tác xã Nông nghiệp Thạnh Tiến, xã Giồng Riềng, vụ hè thu năm 2026, chi phí sản xuất khoảng 20,4 triệu đồng/ha, thấp hơn 4,4 triệu đồng/ha so với sản xuất thông thường. Ông Phạm Hoàng Mỹ - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Thạnh Tiến cho biết: “Năng suất lúa vụ này đạt 7,5 tấn/ha, lợi nhuận hơn 33,5 triệu đồng/ha, cao hơn 11,62 triệu đồng/ha so với sản xuất kiểu cũ nhờ tiết kiệm chi phí phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật”.
.jpg)
Bà Ngụy Thị Nghính, ngụ ấp Bình Lạc, xã Châu Thành thu hoạch cau trong vườn nhà.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh An Giang Lâm Quốc Toàn, phát triển nông nghiệp xanh nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng yêu cầu của thị trường. Xu hướng tiêu dùng hiện nay ngày càng chú trọng sản phẩm an toàn, truy xuất được nguồn gốc và giảm tác động đến môi trường. Các thị trường xuất khẩu cũng đặt ra nhiều tiêu chuẩn về chất lượng, quy trình sản xuất và môi trường.
Muốn nông sản vào được những thị trường này, người sản xuất phải từng bước thay đổi phương thức canh tác, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. “Nông nghiệp xanh đang được tính bằng những con số cụ thể gồm giảm chi phí, tăng lợi nhuận và tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường. Hội Nông dân tỉnh xác định việc vận động nông dân chuyển đổi phải gắn với hiệu quả thực tế”, ông Lâm Quốc Toàn nói.
Từ định hướng trên, Hội Nông dân tỉnh An Giang kết nối doanh nghiệp hỗ trợ nông dân trong giai đoạn đầu, hướng dẫn quy trình, kỹ thuật và cùng xây dựng mô hình. Khi thấy rõ chi phí giảm, năng suất, chất lượng và lợi nhuận được cải thiện, nông dân sẽ chủ động nhân rộng.
Vụ lúa đông xuân 2026 - 2027, tỉnh dự kiến tiếp tục phối hợp doanh nghiệp thí điểm 20.000 - 30.000ha lúa hữu cơ tại các hợp tác xã có mã số vùng trồng, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung giảm dư lượng hóa chất từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, liên kết tiêu thụ và nâng giá trị hạt gạo. Quan trọng hơn, sự thay đổi này còn góp phần bảo vệ sức khỏe nông dân, giữ môi trường nông thôn không bị ô nhiễm.
AN LÂM