Nuôi ong ruồi ít vốn
Cách đây 6 năm, anh Nguyễn Văn Bằng (36 tuổi), ngụ ấp Thạnh Trị, xã Thạnh Đông (tỉnh An Giang) lựa chọn gắn bó với nghề nuôi ong ruồi lấy mật ngay tại vườn nhà. Mô hình phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình.

Anh Nguyễn Văn Bằng, ngụ ấp Thạnh Trị, xã Thạnh Đông (tỉnh An Giang) lựa chọn gắn bó với nghề nuôi ong ruồi lấy mật ngay tại vườn nhà.
Hoàn cảnh của anh Bằng khá đặc biệt, cha mất sớm khi anh mới 9 tuổi, mẹ đi bước nữa, anh lớn lên trong sự đùm bọc của bà nội. “Do gia đình khó khăn, nên tôi chưa từng được đến trường. Thay vì đi làm công nhân xa nhà, tôi quyết định ở lại quê nuôi ong để tiện chăm sóc vợ con”, anh chia sẻ.

Mỗi tháng anh Nguyễn Văn Bằng thu hoạch được khoảng 30 lít mật ong.
Không có nền tảng kỹ thuật, anh bắt đầu từ việc tự mày mò. Thời gian đầu, anh đi bắt ong ngoài tự nhiên về nuôi, nhưng liên tục thất bại do ong bỏ tổ. Sau đó, anh chuyển sang học hỏi qua các hội nhóm nuôi ong, xem video và liên hệ trực tiếp với người có kinh nghiệm để điều chỉnh cách làm. Gần hai năm kiên trì, đàn ong mới dần ổn định.
Hiện nay, anh Bằng duy trì khoảng 30 thùng ong trên diện tích hơn 500m² đất. Các thùng ong do anh tự đóng bằng gỗ, kích thước khoảng 40x30cm, đặt trên chân đế cao 60cm, bố trí cách nhau 1m. Chi phí đầu tư mỗi thùng khoảng 150.000 đồng. Mỗi thùng đều được che chắn để hạn chế mưa, nắng, đảm bảo môi trường sống cho đàn ong.

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang Trần Thị Thanh Hương (thứ ba, từ phải qua) và Thường trực Đảng ủy, UBND xã Thạnh Đông thăm mô hình nuôi ong ruồi lấy mật của anh Nguyễn Văn Bằng.
Theo anh Bằng, việc thay ong chúa định kỳ là yếu tố quan trọng giúp đàn ong phát triển ổn định. Anh thường xuyên kiểm tra để theo dõi khả năng sinh sản của ong chúa, kịp thời thay thế khi cần thiết. “Khi ong phát triển mạnh, mật đầy cầu là có thể thu hoạch”, anh nói.
Nguồn mật chủ yếu từ bông dừa, bông xoài ở địa phương. Mùa khai thác kéo dài từ khoảng tháng 8 âm lịch đến tháng 4 âm lịch năm sau. Trong giai đoạn cao điểm, mỗi tuần anh thu mật một lần.
Với giá bán 300.000 đồng/lít mật ong ruồi nguyên chất, mỗi tháng anh tiêu thụ khoảng 30 lít. Sản phẩm làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó, chủ yếu phục vụ người dân xung quanh. Cùng với nuôi ong, anh vẫn làm thêm nghề thợ hồ để đảm bảo thu nhập.
Từ mô hình nuôi ong với quy mô nhỏ, vốn đầu tư thấp, anh Bằng từng bước ổn định sản xuất. Cách làm này cho thấy là hướng đi phù hợp với những người dân có điều kiện kinh tế còn hạn chế, nhưng có tinh thần học hỏi và kiên trì theo đuổi.

Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Hiệp Phạm Thị Thu Trang thăm mô hình trồng dưa lưới trong nhà kính của anh Nguyễn Thanh Tâm.
Trồng dưa lưới nhà kính bài bản
2 năm trước, anh Nguyễn Thanh Tâm (38 tuổi), hội viên nông dân ấp Đá Nổi B, xã Tân Hiệp (tỉnh An Giang) lựa chọn hướng đi khác khi đầu tư trồng dưa lưới trong nhà kính. Trước đó, anh làm tài xế xe tải cho một công ty khai thác đá với thu nhập ổn định, nhưng quyết định chuyển sang làm nông nghiệp để chủ động lâu dài.
Sau thời gian tìm hiểu các mô hình trong và ngoài địa phương, năm 2024 anh đầu tư nhà lưới đầu tiên với diện tích 900m². Nhận thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt, đến năm 2025, anh tiếp tục mở rộng thêm 500m².

Anh Nguyễn Thanh Tâm vận hành hệ thống tưới nhỏ giọt.
Một điểm đáng chú ý là hệ thống tưới nhỏ giọt được anh tự nghiên cứu, lắp đặt thay vì thuê đơn vị thi công, giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư. Hệ thống vận hành tự động theo từng giai đoạn phát triển của cây, đảm bảo cung cấp nước hợp lý, tiết kiệm công lao động.
“Mỗi vụ dưa kéo dài khoảng 70 ngày, mỗi năm sản xuất từ 3 đến 4 vụ. Mỗi cây chỉ giữ một trái để đảm bảo chất lượng. Sản phẩm sau thu hoạch được thương lái thu mua với giá từ 26.000 đến 35.000 đồng/kg”, anh Tâm cho biết.
Trung bình mỗi vụ, hai nhà lưới đạt sản lượng khoảng 7,3 tấn. Sau khi trừ chi phí, mô hình cho lợi nhuận khá ổn định. “Mỗi năm, tôi thu về hơn 300 triệu đồng, từng bước cải thiện đời sống gia đình. Quan trọng là mình làm chủ, không phải đi làm thuê xa nhà”, anh Tâm chia sẻ.

Mô hình trồng dưa lưới trong nhà kính giúp anh Nguyễn Thanh Tâm ổn định kinh tế ngay tại quê nhà.
Theo anh Tâm, khó khăn lớn nhất là sâu bệnh, đặc biệt là bệnh cháy lá và biến động giá cả thị trường. Tuy nhiên, qua nhiều vụ sản xuất, anh đã tích lũy kinh nghiệm, chủ động trong chăm sóc và phòng trừ rủi ro. Hiện, anh tiếp tục duy trì và nâng cao kỹ thuật canh tác, hướng đến sản xuất ổn định và bền vững hơn.
Trong chuyến khảo sát thực tế mô hình nuôi ong ruồi và trồng dưa lưới tại các địa phương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang Trần Thị Thanh Hương ghi nhận tinh thần chủ động, dám chuyển đổi cách làm của người dân, đặc biệt là lực lượng trẻ. Theo đồng chí, việc lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế đã góp phần tạo sinh kế ổn định, giảm áp lực lao động di cư.
Đồng chí Trần Thị Thanh Hương cũng lưu ý, trong quá trình phát triển, người dân cần tăng cường kết nối với chính quyền địa phương để tiếp cận kỹ thuật, nguồn vốn, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm. Hướng đến sản xuất an toàn, xây dựng thương hiệu và mở rộng đầu ra là yếu tố quan trọng để các mô hình duy trì hiệu quả lâu dài.
Từ hai mô hình cho thấy lựa chọn lập nghiệp tại quê không còn bó hẹp trong những cách làm truyền thống. Tùy điều kiện, mỗi người có thể bắt đầu từ quy mô nhỏ hoặc đầu tư bài bản, miễn là phù hợp với khả năng và thực tế địa phương.
Trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ở đô thị ngày càng tăng, ở lại quê, tận dụng đất đai và nguồn lực sẵn có đang trở thành lựa chọn của một bộ phận người trẻ. Nếu chọn đúng hướng và kiên trì theo đuổi, lập nghiệp tại quê là hướng đi khả thi, góp phần tạo sinh kế và phát triển kinh tế nông thôn.
THU OANH