
Bà Trần Thị Vỹ cùng thành viên hợp tác xã thu hoạch khoai mỡ Mộng Linh.
Ở ấp Nam Quý, xã Đông Thái, Hợp tác xã Nông nghiệp Nam Quý hiện có 97 thành viên, sản xuất trên 150ha, trong đó mô hình tôm - lúa là hướng canh tác chủ lực. Năm 2025, lúa ST25 đạt năng suất bình quân 6,8 tấn/ha, giá bán 10.000 - 12.000 đồng/kg, lợi nhuận khoảng 57 - 70 triệu đồng/ha.
Cùng với nuôi tôm và cua xen canh, mô hình mang lại tổng lợi nhuận khoảng 130 - 150 triệu đồng/ha/năm. Sản phẩm tôm - lúa của hợp tác xã được cấp chứng nhận USDA-Organic trong năm 2025. Những con số ấy cho thấy hiệu quả của mô hình, nhưng vẫn còn một bài toán chưa có lời giải là vốn để đi tiếp.
Theo ông Phạm Chí Thương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Nam Quý, sản xuất theo quy trình sạch giúp liên kết bao tiêu sản phẩm với giá tương đối ổn định. Tuy nhiên, hợp tác xã chưa có nguồn lực đủ mạnh để chủ động mua giống, vật tư vào thời điểm giá thấp, giảm chi phí cho thành viên.
“Hợp tác xã muốn bán được lúa và muốn tạo dựng thương hiệu gạo mang tên của mình. Muốn vậy phải có vốn mua vật tư lúc giá thấp, có máy xay xát, đóng gói và có nơi bảo quản sản phẩm”, ông Thương nói.
Hợp tác xã Nông nghiệp Nam Quý thành lập năm 2020, hiện có vốn điều lệ 80 triệu đồng. Với nguồn vốn này, việc xoay xở cho hoạt động sản xuất thường xuyên đã khó, càng khó hơn khi hợp tác xã muốn đầu tư hệ thống sau thu hoạch.
Câu chuyện thiếu vốn cũng hiện hữu ở vùng đệm U Minh Thượng, nơi Hợp tác xã Sản xuất - Dịch vụ nông nghiệp Kênh 10 nhiều năm nay duy trì liên kết cung cấp khoai mỡ Mộng Linh nguyên củ cho doanh nghiệp xuất khẩu. Mỗi năm, hợp tác xã cung ứng khoảng 150 tấn khoai, góp phần tạo đầu ra tương đối ổn định cho nông dân.
“Doanh nghiệp không chỉ đặt mua nguyên củ mà mới đây còn đề nghị hợp tác xã sơ chế ngay tại địa phương bằng cách sấy thô nguyên liệu. Cách làm này vừa giữ được hàm lượng dinh dưỡng của khoai vừa giảm một phần chi phí sơ chế”, bà Vỹ cho biết.
Trong điều kiện giao thông ở vùng đệm U Minh Thượng còn nhiều khó khăn, việc sơ chế ngay tại vùng nguyên liệu càng có ý nghĩa. Thay vì vận chuyển một khối lượng lớn nông sản thô đi xa rồi mới xử lý, sản phẩm có thể được sơ chế tại chỗ trước khi đưa đến doanh nghiệp, qua đó giảm chi phí logistics.
Đơn hàng đã có, nguyên liệu cũng có, nhưng hợp tác xã lại thiếu kinh phí để thực hiện yêu cầu của doanh nghiệp. Đây là điểm nghẽn khiến cơ hội nâng giá trị củ khoai mỡ vẫn chưa thể chuyển thành năng lực sản xuất thực tế. Theo bà Vỹ, muốn thực hiện yêu cầu của doanh nghiệp, hợp tác xã cần có nhà kho, xưởng sơ chế và thiết bị phù hợp.
Hợp tác xã đã nhiều lần tìm đến các ngân hàng để vay vốn đầu tư với mong muốn không chỉ phục vụ đơn hàng hiện tại mà còn mở rộng quy mô chế biến, tạo thêm việc làm cho thành viên và người dân địa phương. Tuy nhiên, yêu cầu về tài sản thế chấp cùng những điều kiện vay vốn khác khiến hợp tác xã chưa thể tiếp cận nguồn vốn cần thiết.
Theo bà Vỹ, từ khi thành lập năm 2018 đến nay, Hợp tác xã Sản xuất - Dịch vụ nông nghiệp Kênh 10 chưa tiếp cận được vốn vay ưu đãi nào. Vay 30 - 50 triệu đồng theo hộ thì chỉ giải quyết được việc trước mắt, chẳng thấm vào đâu nếu muốn mở rộng nhà xưởng, nâng quy mô chế biến.
Vùng đệm U Minh Thượng diện tích gần 20.000ha, là nơi cung ứng hàng ngàn tấn nông sản mỗi năm, trong đó khóm, chuối và khoai mỡ Mộng Linh là những sản phẩm chủ lực. Nguồn nguyên liệu không thiếu, doanh nghiệp đã hình thành mối liên kết, nhưng năng lực bảo quản và sơ chế tại chỗ còn hạn chế.
Điều đáng nói, với đặc điểm địa bàn vùng đệm, nếu tiếp tục vận chuyển nông sản nguyên củ, nguyên liệu thô ra ngoài để sơ chế, chi phí sẽ đội lên và phần giá trị gia tăng tiếp tục nằm ở nơi khác. Một xưởng sơ chế ngay tại vùng nguyên liệu không chỉ giúp hợp tác xã đáp ứng đơn hàng mà còn có thể tạo thêm công việc, hình thành thêm một khâu sản xuất ngay tại địa phương, vì vậy hợp tác xã rất cần vốn để thực hiện
“Chính sách tín dụng cho hợp tác xã khá nhiều nhưng khi tiếp cận thì rất khó. Nếu không vay được vốn, có lẽ tôi sẽ không tham gia hợp tác xã nữa mà thành lập doanh nghiệp để thuận lợi hơn”, bà Vỹ nói.
AN LÂM