Thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng mang tính đột phá

10/05/2026 - 07:08

Nghị quyết 68-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 4/5/2025 đã xác định rõ mục tiêu đưa khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tầm nhìn này, Chính phủ cần một cuộc rà soát tổng thể, đánh giá kỹ lưỡng những "điểm nghẽn" đang bủa vây doanh nghiệp, từ đó đưa ra những giải pháp thực chất thay vì những con số cải cách mang tính cơ học.

Chú thích ảnh

An Giang hỗ trợ tối đa 30% giá trị hợp đồng tư vấn, nhưng không quá 200 triệu đồng/năm/doanh nghiệp đối với doanh nghiệp vừa do phụ nữ làm chủ, vừa sử dụng nhiều lao động nữ. Ảnh: Công Mạo/TTXVN

Nhận diện những rào cản của kinh tế tư nhân

Đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, kinh tế tư nhân từ lâu đã được khẳng định là một trong những cột trụ của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp đáng kể vào GDP, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trong kỷ nguyên mới, tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW tiếp tục nâng tầm vai trò của khu vực này, coi đây là "động lực quan trọng nhất".

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, sức chống chịu của các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đang bị bào mòn bởi những khó khăn khách quan lẫn chủ quan. Nếu không có các đánh giá thấu đáo và giải pháp hỗ trợ kịp thời, mục tiêu chiến lược mà Đảng và Nhà nước đề ra sẽ khó có thể về đích đúng hạn.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, một trong những khó khăn mà cộng đồng doanh nghiệp đang phải đối mặt là điểm nghẽn gốc về thể chế và thủ tục hành chính. Đây là nhóm khó khăn lớn nhất, tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp. Mặc dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc đơn giản hóa thủ tục, nhưng sự chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật, tình trạng "giấy phép con" biến tướng vẫn còn tồn tại. Thể chế không đồng bộ không chỉ làm mất thời gian, mà còn tạo ra rủi ro pháp lý khiến doanh nghiệp "không dám làm" hoặc "làm trong lo sợ".

Tiếp đó là bài toán đất đai và mặt bằng sản xuất. Việc tiếp cận đất đai vẫn là nỗi ám ảnh của nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp SME. Hiện nay, cơ chế hỗ trợ thuê mặt bằng trong các khu, cụm công nghiệp thông qua việc bù giá cho chủ đầu tư hạ tầng đang bộc lộ nhiều bất cập. Các chủ đầu tư hạ tầng thường ưu tiên các doanh nghiệp lớn, dự án FDI để nhanh chóng lấp đầy diện tích, khiến doanh nghiệp tư nhân trong nước rơi vào cảnh "đói" mặt bằng, hoặc phải thuê lại với giá quá cao qua các khâu trung gian.

Ngoài ra, gánh nặng vốn và chi phí đầu vào cũng là vấn đề nhiều doanh nghiệp trăn trở. Chi phí nguyên vật liệu, logistics, năng lượng và nhân công không ngừng tăng cao, trong khi khả năng tiếp cận vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi vẫn còn rất hạn chế. Đối với nhiều doanh nghiệp nhỏ, tài sản thế chấp là một rào cản lớn, trong khi các cơ chế cho vay dựa trên dòng tiền hoặc tín chấp vẫn chưa thực sự phổ biến. Điều này làm suy giảm nghiêm trọng sức chống chịu và khả năng tái đầu tư.

Bên cạnh đó, năng lực nội tại và nguồn nhân lực của các doanh nghiệp tư nhân ở nước ta vẫn đang loay hoay trong vòng xoáy của quản trị truyền thống, chất lượng lao động thấp và trình độ công nghệ lạc hậu. Chuyển đổi số và đổi mới công nghệ là "chìa khóa" để nâng cao năng suất, nhưng với nguồn tài chính hạn hẹp và thiếu hụt nhân sự kỹ thuật chất lượng cao, các doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Cuối cùng là áp lực thị trường và năng lực cạnh tranh. Đây là thách thức dài hạn khi Việt Nam hội nhập sâu rộng thông qua các FTA thế hệ mới. Hàng hóa trong nước phải cạnh tranh sòng phẳng với hàng ngoại ngay trên sân nhà và đối mặt với các hàng rào kỹ thuật khắt khe khi xuất khẩu. Khả năng định vị thương hiệu và bảo vệ thị phần của doanh nghiệp nội vẫn còn khá yếu ớt.

Cần cải cách thực chất

Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh, Vũ Văn Cường, cho rằng, trước những khó khăn nêu trên, đòi hỏi Chính phủ phải có chỉ đạo quyết liệt và thực chất hơn. Một trong những vấn đề cốt lõi cần lưu tâm là công tác cải cách thủ tục hành chính.

Theo ông Vũ Văn Cường, thời gian qua, chúng ta thường nghe về những báo cáo cắt giảm 20-30% thủ tục. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế mà doanh nghiệp cảm nhận được lại không tương xứng. Đó là bởi vì chúng ta mới chỉ cắt giảm "cơ học", tức là giảm số lượng đầu mục giấy tờ hoặc giảm thời gian giải quyết trên giấy tờ mà chưa rà soát, cắt giảm các điều kiện để xem xét chấp thuận.

Một hồ sơ được giải quyết nhanh hơn vài ngày, nhưng các điều kiện để được chấp thuận vẫn ngặt nghèo, chồng chéo, hoặc đòi hỏi những thủ tục con không cần thiết... thì việc cắt giảm thời gian đó trở nên vô nghĩa. Cải cách thực chất phải là việc rà soát lại xem điều kiện đó có thực sự cần thiết cho quản lý Nhà nước hay không, có gây khó cho doanh nghiệp hay không? Nếu chỉ cắt giảm vỏ mà không sửa lõi, điểm nghẽn về thể chế vẫn sẽ tồn tại dai dẳng.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần xử lý dứt điểm tình trạng "nợ" văn bản quy định chi tiết. Luật đã ban hành nhưng thiếu nghị định, thông tư hướng dẫn khiến các quy định bị treo, doanh nghiệp muốn thực hiện cũng không có căn cứ pháp lý. Đây là lỗi chủ quan của các cơ quan soạn thảo cần được khắc phục ngay để tháo gỡ điểm nghẽn thể chế.

Cũng theo ông Vũ Văn Cường, khu vực FDI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, nhưng thực tế sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn rất mờ nhạt. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng thấp như gia công, đóng gói.

Để khu vực tư nhân trở thành động lực mạnh mẽ, Chính phủ cần có giải pháp cụ thể để thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Không thể để doanh nghiệp FDI mãi là những "ốc đảo" về công nghệ. Cần có các chính sách khuyến khích, thậm chí là các ràng buộc mềm, để các tập đoàn đa quốc gia hỗ trợ đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho các doanh nghiệp cung ứng nội địa. Khi doanh nghiệp trong nước tiếp cận được công nghệ tiên tiến, họ mới có thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó nâng cao chất lượng và quy mô của toàn nền kinh tế.

Chú thích ảnh

Đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phát biểu tại phiên thảo luận tại Quốc hội.

Ông Nguyễn Văn Thân cho rằng, cần sàng lọc đầu tư, nói không với "đầu tư chui, núp bóng". Một môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng là điều kiện tiên quyết để kinh tế tư nhân phát triển. Tinh thần Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 đã nhấn mạnh việc thu hút đầu tư có chọn lọc.

Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, hiện nay tình trạng đầu tư chui, đầu tư núp bóng đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, không chỉ làm méo mó môi trường kinh doanh mà còn tiềm ẩn nguy cơ về an ninh kinh tế. Các dự án núp bóng thường không mang lại giá trị gia tăng, không chuyển giao công nghệ, thậm chí còn cạnh tranh bất bình đẳng với doanh nghiệp nội địa vốn đang gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy Chính phủ cần tăng cường các cơ chế kiểm tra, giám sát và hậu kiểm để sàng lọc nguồn vốn đầu tư. Chúng ta cần những nhà đầu tư thực tâm, có năng lực, mang lại công nghệ và thị trường, chứ không cần những dự án chỉ nhằm mục đích tận dụng xuất xứ hàng hóa Việt Nam để né thuế hoặc rửa tiền. Việc làm sạch môi trường đầu tư chính là cách tốt nhất để bảo vệ và tạo không gian phát triển cho các doanh nghiệp tư nhân làm ăn chân chính.

Khu vực kinh tế tư nhân đang đứng trước ngưỡng cửa của những cơ hội lớn nhưng cũng đầy rẫy những thách thức sinh tồn. Những khó khăn về thể chế, đất đai, vốn, nhân lực và thị trường không thể giải quyết trong một sớm một chiều bằng những văn bản hành chính thông thường.

Cộng đồng doanh nghiệp đang mong chờ sự vào cuộc thực chất từ phía Chính phủ. Đó là sự chuyển đổi từ tư duy "quản lý" sang tư duy "phục vụ", từ những báo cáo thành tích về con số cắt giảm sang những hành động tháo gỡ khó khăn cụ thể tại hiện trường.

Nếu khơi thông được nguồn lực từ kinh tế tư nhân, chúng ta sẽ có một động lực tăng trưởng bền vững nhất, mạnh mẽ nhất để đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới. Với tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết số 50-NQ/TW, cùng với sự quyết liệt của Chính phủ, chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng vào một sự bứt phá mạnh mẽ của khu vực doanh nghiệp nội địa trong tương lai gần. Một quốc gia thịnh vượng không thể thiếu một cộng đồng doanh nghiệp dân tộc hùng cường.

Theo TTXVN