Ngày trước, ba tôi cũng là một ngư phủ. Từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã quen với việc ngôi nhà lúc nào cũng thiếu vắng bóng dáng của người đàn ông trụ cột. Ba thường đi biền biệt, có khi vài tuần, có khi cả tháng mới trở về. Tôi lớn lên cùng những câu chuyện nghề ba kể trong những ngày tàu tạm neo bờ. Qua lời ba, biển không chỉ có màu xanh hiền hòa mà còn là những trận cuồng phong thét gào, những đêm thức trắng cùng bạn thuyền kéo lưới, tay rớm máu vì cước cứa, cái lạnh thấu xương khi toàn thân ướt sũng giữa bão đêm.
.jpg)
Anh Trần Đức Nam (bìa phải), ngụ xã Kiên Lương làm việc cùng bạn tàu. Ảnh: CẨM TÚ
Thế nhưng, trong đôi mắt sâu hoắm hằn in vết sương gió của ba tôi chỉ thấy một sự kiên định kỳ lạ. Ba yêu biển, yêu cái nghề đã nuôi sống bao thế hệ ngư phủ và quan trọng hơn đó là chiếc phao cứu sinh duy nhất để ba gánh vác cả gia đình. Mỗi chuyến khơi xa của ba không chỉ chở theo hy vọng về những khoang cá đầy mà còn chở nặng cả tương lai của chị em tôi. Ba chấp nhận đối mặt với sóng dữ khơi xa, cốt chỉ để giữ cho mặt biển cuộc đời của các con được lặng sóng, mong muốn con đổi đời bằng tri thức, không phải nặng gánh mưu sinh.
Khi bước lên boong tàu của ngư dân Nguyễn Trung Hiếu (33 tuổi) - một ngư dân dày dạn kinh nghiệm, ngụ đặc khu Phú Quốc trước giờ xuất bến, tôi lại bắt gặp chính hình bóng của ba tôi ngày trước. Một cơ thể săn chắc, rắn rỏi như cây gỗ mun. Đôi mắt lúc nào cũng nheo lại trước cái chói chang, lấp lánh của biển khơi, nhưng nụ cười lại hiền lành đến lạ. Sự khắc nghiệt của biển cả có thể làm thô ráp làn da, nhưng dường như lại làm mềm đi tâm hồn của những người đàn ông quanh năm làm bạn với sóng nước.
Gắn bó với nghề đi biển từ năm 16 tuổi, cuộc sống nghèo khó khiến anh Hiếu phải sớm làm quen với cái mặn mòi của biển cả, học cách đứng vững trước những đợt sóng đầu đời. Trải qua bao năm tháng thăng trầm, anh đã quá quen cảnh lênh đênh trên biển. Đối với anh và những người bạn thuyền, thuyền là nhà, biển làm quê hương thứ hai.
Bằng chất giọng trầm khàn, hào sảng, anh Hiếu tâm sự: “Nghề đi biển cực thì cực trăm bề. Có những đêm bão giật, sóng đánh trùm lên cả cabin, anh em trên tàu mặt cắt không còn giọt máu, chỉ biết ôm chặt mạn thuyền cầu bình an. Lúc đó ai cũng tự nhủ: “Chuyến này về đất liền là bán tàu, bỏ nghề!”. Nhưng lạ thay, cứ về nhà nằm vài ngày, thiếu cái mùi mặn mòi của muối biển, thiếu tiếng máy nổ xập xình là chân tay bứt rứt, ngủ không ngon giấc, lại phải đi, biển gọi rồi thì không ở bờ được”.
Mỗi chuyến hải trình kéo dài từ nửa tháng đến vài tháng là một lần các ngư phủ phải đem tính mạng ra để đánh cược với mẹ thiên nhiên. Đó là những cơn bão biển bất ngờ, những đợt áp thấp nhiệt đới, hay sự cố hỏng máy tàu đẩy con thuyền vào thế cô độc, trôi dạt giữa khơi xa vô định. Ngay cả trong những ngày lặng gió, nguy hiểm vẫn hiện hữu qua những cú trượt chân trên boong tàu khi sóng lớn, hay tai nạn từ những dàn lưới nặng hàng tấn.
Đối với người ngư phủ, cái giá của những chuyến tàu đầy ắp cá tôm không chỉ là mồ hôi, xương máu mà còn là những tháng ngày ly hương. Họ phải chấp nhận bỏ lỡ những cột mốc trưởng thành quan trọng của các con. Mọi niềm vui, nỗi buồn nơi đất liền họ đều phải gửi gắm qua những cuộc điện thoại vội vã hoặc gói gọn vào niềm mong nhớ da diết giữa trùng khơi. Họ chấp nhận đánh đổi sự cô đơn của bản thân để đổi lấy cuộc sống ấm no, đầy đủ hơn cho gia đình sau mỗi chuyến hải trình bão táp.
Vất vả, nguy hiểm, nhưng chưa một lần nghĩ đến chuyện bỏ cuộc, những người ngư phủ có thể đứng vững trước đầu sóng ngọn gió, cốt yếu là vì cuộc sống mưu sinh lo cho gia đình, con cái. “Cả đời lênh đênh, chữ nghĩa của tôi chỉ gói gọn trong 2 từ “đời” và “biển”. Đời mình khổ nhiều rồi, nên tôi tâm niệm phải ráng nuôi cho tụi nhỏ học đến nơi đến chốn, cam chịu sóng gió, đổi giọt mồ hôi mặn ngoài khơi lấy tương lai tươi sáng cho con”, anh Hiếu nói.
Anh Trần Đức Nam (46 tuổi), ngụ xã Kiên Lương, một bạn thuyền trẻ tuổi, nhẹ nhàng lấy từ trong túi trên ngực áo chiếc điện thoại thông minh được bọc cẩn thận 3 lớp nylon để tránh nước biển. Ánh mắt anh lấp lánh niềm tự hào khi khoe bức ảnh chụp cậu con trai đầu lòng đứng trên bục nhận giải thưởng học sinh giỏi. Tấm ảnh bọc trong ba lớp nylon ấy không chỉ là báu vật riêng của anh mà còn là hình ảnh đại diện cho chiếc “neo tinh thần” của người cha lặng thầm hy sinh vì con. Những vết sẹo do cước cứa, những cơn đau khớp mỗi khi trái gió trở trời trở nên nhẹ nhàng, chấp nhận khổ cực để đổi lấy tri thức và một cuộc đời xán lạn hơn cho con. Anh Nam tâm sự: “Thức trắng đêm đối mặt với sóng to gió lớn, tôi chưa bao giờ sợ hãi, vì sau lưng tôi là tương lai học vấn của các con. Đời mình đã khổ vì thiếu chữ, bấy nhiêu khổ cực có sá gì, miễn con được học hành đàng hoàng, thực hiện được ước mơ của mình là tôi mãn nguyện”.
Nhiều người thường nói nghề đi biển là nghề “ăn cơm đứng, nói chuyện bằng đầu ngón tay”. Giữa tiếng sóng vỗ ầm ào của đại dương, làm gì cũng phải nhanh, phải vội. Ấy thế mà, cái nghề gian nan, đầy rẫy hiểm nguy này lại có một sức hút kỳ lạ, bám rễ sâu vào tâm thức người dân từ đời này sang đời khác như một cái “nghiệp” không thể tách rời.
Nỗi niềm của ngư phủ là thế, vừa trĩu nặng âu lo vừa tràn đầy hy vọng. Họ đi biển không chỉ để mưu sinh mà đi bằng niềm tự hào của những người làm chủ biển cả, bằng tình yêu thương vô bờ bến dành cho gia đình. Giữa trùng khơi đại ngàn, những cánh buồm khát vọng của họ vẫn đang lướt sóng hướng về phía trước, nơi có ánh sáng của tri thức và một tương lai tươi sáng hơn cho thế hệ mai sau.
CẨM TÚ