Đến giữa tháng 3/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,74 triệu tấn gạo, tăng khoảng 2,3% so cùng kỳ nhưng kim ngạch giảm gần 9%, giá xuất khẩu bình quân khoảng 470 - 480 USD/tấn, giảm hơn 10%. Điều này cho thấy nghịch lý sản lượng vẫn tăng nhưng giá trị chưa tương xứng.
Nâng giá trị thương hiệu
Ngồi trên bờ ruộng, nhìn cánh đồng 100ha vàng ươm của hợp tác xã tham gia Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long, ông Trịnh Văn Dứt - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Tân Phú A1, xã Tân An không giấu được niềm vui. Hơn 10 năm qua, hợp tác xã của ông cùng hơn 40 hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh tham gia các mô hình “Cánh đồng lớn”, “Cánh đồng liên kết”, tạo ra những hạt lúa chất lượng phục vụ xuất khẩu, góp phần vào thành công chung của cả nước.
Giai đoạn 2015 - 2025, xuất khẩu gạo Việt Nam có bước tăng trưởng vượt bậc, chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng. Đỉnh cao là năm 2024 với khoảng 9 triệu tấn, kim ngạch đạt 5,7 tỷ USD, cao nhất trong lịch sử ngành. Các dòng gạo chất lượng cao như ST24, ST25 ngày càng khẳng định vị thế tại những thị trường khó tính, góp phần nâng cao giá trị và uy tín thương hiệu gạo Việt.

Gạo được tập kết đưa đi xuất khẩu tại Cảng An Giang. Ảnh: MINH HIỂN
Theo ông Lê Thanh Tùng - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, hơn 10 năm qua, Việt Nam luôn duy trì vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, thường xuyên đứng thứ 2 hoặc thứ 3 trong cơ cấu gạo xuất khẩu, Việt Nam chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng gạo thơm, gạo chất lượng cao và giảm dần gạo chất lượng thấp. Về thị trường, Philippines vẫn là khách hàng lớn nhất, bên cạnh EU, Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản. Nhìn chung, ngành gạo Việt Nam đã nâng cao giá trị thương hiệu và mở rộng thị trường.
Một điểm sáng nổi bật là Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sau hơn 2 năm triển khai, diện tích thực hiện vượt 197% kế hoạch, giúp giảm hơn 40% chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận từ 4 - 7,6 triệu đồng/ha. Việc áp dụng các quy trình như “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm” không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao chất lượng hạt lúa. Tại An Giang, chỉ riêng vụ đông xuân 2025 - 2026 và vụ thu đông 2026, các địa phương, hợp tác xã, tổ hợp tác và nông dân triển khai 8 mô hình tại 8 xã với tổng diện tích 398,16ha, 100 hộ tham gia.
Không dừng lại ở hiệu quả kinh tế, đề án còn mở ra hướng đi mới cho ngành lúa gạo khi thúc đẩy canh tác theo hướng giảm phát thải, tạo ra “gạo xanh”. Đây đang trở thành điều kiện quan trọng để gạo Việt thâm nhập sâu hơn vào các thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản, nơi ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Bài toán phát triển
Dù đạt nhiều thành tựu, xuất khẩu gạo Việt Nam nói chung, An Giang nói riêng vẫn đối mặt với nhiều thách thức khi thị trường thế giới biến động mạnh. Những điểm nghẽn không nằm ở một khâu riêng lẻ mà trải dài từ sản xuất, logistics đến thị trường, tạo áp lực lên toàn bộ chuỗi giá trị. “Ở khâu sản xuất, chi phí vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tăng khoảng 15 - 20%, trong khi tác động của biến đổi khí hậu như xâm nhập mặn, hạn hán vẫn hiện hữu. Hiện, phân ure giá gần 1 triệu đồng/bao, trong khi dầu diesel hơn 44.000 đồng/l. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chưa chặt chẽ khiến chuỗi giá trị thiếu ổn định, khó kiểm soát đồng đều chất lượng”, ông Trịnh Văn Dứt phân tích.
Ông Lê Thanh Tùng cho biết: “Logistics, chi phí vận chuyển và bảo quản vẫn cao, chiếm từ 20 - 25% giá thành, cao hơn so các nước cạnh tranh. Diễn biến phức tạp của tình hình địa chính trị khiến cước vận tải biển tăng từ 20.000 - 30.000 đồng/tấn, tiếp tục bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp”.

Đại diện Hợp tác xã Nông nghiệp Tân Phú A1, xã Tân An cùng đại diện doanh nghiệp ra đồng ngày thu hoạch lúa đông xuân. Ảnh: MINH HIỂN
Về thị trường, áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng khi các quốc gia xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan phục hồi sản lượng. Nguồn cung dồi dào kéo giá gạo thế giới đi xuống trong khi nhiều nhà nhập khẩu chuyển sang chiến lược mua cầm chừng khiến doanh nghiệp xuất khẩu bị động. Vì thế, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì sản lượng mà phải chuyển mạnh sang nâng cao giá trị và phát triển bền vững. “Trong thay đổi tư duy sản xuất, chúng ta cần chuyển từ sản lượng sang giá trị, thay vì chạy đua về khối lượng sẽ tập trung nâng cao giá trị trên từng hạt gạo. Phát triển giống lúa chất lượng cao ST24, ST25, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn SRP, GlobalGAP, VietGAP để đáp ứng yêu cầu thị trường”, ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An nói.
Liên kết chuỗi giá trị cần được tổ chức theo hướng thực chất hơn, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân, liên kết trực tiếp với hợp tác xã, giảm trung gian, bảo đảm đầu ra ổn định. Việc ứng dụng chuyển đổi số như truy xuất nguồn gốc, quản lý vùng trồng, sử dụng thiết bị bay không người lái trong sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả toàn chuỗi.
Xuất khẩu gạo bền vững không chỉ là bán cái mình có mà là sản xuất cái thị trường cần với trách nhiệm cao đối với môi trường và xã hội. Khi người nông dân có cuộc sống ổn định trên đồng ruộng của mình, doanh nghiệp giữ vững cam kết chất lượng với đối tác, hạt gạo Việt Nam mới có thể đi xa, không chỉ nhiều mà còn mạnh trên bản đồ lương thực thế giới.
MINH HIỂN