Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết xuất khẩu nông lâm thủy sản trong 8 tháng qua ước đạt gần 49,31 tỷ USD (tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025), trong đó giá trị xuất khẩu mặt hàng nông sản đạt 25,66 tỷ USD.
Nhóm mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất trong top "các mặt hàng xuất khẩu chính" là rau quả. Cụ thể, giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 8/2026 ước đạt 1,24 tỷ USD, qua đó đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả 8 tháng kể từ đầu năm 2026 đạt 6,02 tỷ USD (tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2025).
Đáng chú ý, sầu riêng được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá là ngành hàng có giá trị kinh tế cao, tiềm năng xuất khẩu lớn.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết chỉ riêng trong 7 tháng kể từ đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD (tăng 44,1% so với cùng kỳ năm 2025); riêng thị trường Trung Quốc chiếm trên 95% thị phần, đạt khoảng 1,38 tỷ USD (tăng 49,6%).
Ngoài Trung Quốc, Việt Nam đã nỗ lực mở rộng thị trường xuất khẩu tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặc biệt từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở ra dư địa tăng trưởng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Xét chung đối với các mặt hàng rau quả xuất khẩu của Việt Nam, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Trung Quốc cũng là thị trường tiêu thụ rau quả nhiều nhất với thị phần chiếm 58,9% tổng giá trị xuất khẩu. Hai thị trường lớn tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc với thị phần lần lượt là 7,6% và 4,2%.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu rau quả 7 tháng từ đầu năm 2026 sang Trung Quốc tăng 33,1%, thị trường Hoa Kỳ tăng 14,4%, thị trường Hàn Quốc tăng 9,6%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hàng rau quả tăng mạnh nhất ở Campuchia với mức tăng 2,5 lần.

Du khách trải nghiệm gõ sầu riêng tại vườn trong khuôn khổ Lễ hội. (Ảnh: Hoài Thu/TTXVN)
Tiếp theo là càphê. Khối lượng xuất khẩu tháng 8/2026 ước đạt 123,8 nghìn tấn với giá trị đạt 545,6 triệu USD, qua đó đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu càphê 8 tháng kể từ đầu năm 2026 đạt 1,3 triệu tấn và 6 tỷ USD (tăng 13,1% về khối lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025).
Đức, Italy và Nhật Bản là 3 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam.
Mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn tiếp theo là hạt điều. Khối lượng xuất khẩu hạt điều tháng 8/2026 ước đạt 61,9 nghìn tấn với giá trị đạt 445,4 triệu USD, qua đó đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu hạt điều 8 tháng kể từ đầu năm 2026 đạt 474 nghìn tấn và 3,35 tỷ USD.
Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan là 3 thị trường tiêu thụ hạt điều lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 24,8%, 21,3% và 7,6%.
Gạo có giá trị xuất khẩu đứng thứ tư. Khối lượng xuất khẩu tháng 8/2026 ước đạt 459,5 nghìn tấn với giá trị đạt 240,6 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 8 tháng kể từ đầu năm 2026 đạt 6 triệu tấn và 2,86 tỷ USD.
Philippin là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 43,2%. Trung Quốc và Gana là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 18,4% và 11%. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất ở thị trường Irắc với mức tăng 110,9 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Bờ Biển Ngà với mức giảm 59,3%.
Tiếp theo là hạt tiêu. Khối lượng xuất khẩu tháng 8/2026 ước đạt 21,2 nghìn tấn với giá trị đạt 138,6 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu hạt tiêu 8 tháng kể từ đầu năm 2026 đạt 190,1 nghìn tấn và 1,24 tỷ USD (tăng 14,5% về khối lượng và tăng 9,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025).
Hoa Kỳ, Đức và Thái Lan là 3 thị trường tiêu thụ hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 27,2%, 6,2% và 4,5%.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu hạt tiêu tăng mạnh nhất ở thị trường Thổ Nhĩ Kỳ với mức tăng 96,4% và giảm mạnh nhất ở thị trường Hàn Quốc với mức giảm 39%./.