Bánh Cáy làng Nguyễn - Hồn quê trong từng miếng bánh

02/05/2026 - 07:33

Từ một món bánh quê giản dị, Bánh Cáy làng Nguyễn trở thành biểu tượng ẩm thực của vùng đồng bằng Bắc Bộ; kết tinh sự khéo léo, cần cù, tinh thần gìn giữ nghề truyền thống của người dân quê lúa.

Bánh Cáy - món quà quê được nhiều người yêu thích. (Ảnh: PT/Vietnam+)

Bánh Cáy - món quà quê được nhiều người yêu thích. (Ảnh: PT/Vietnam+)

Giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trù phú, nơi những cánh đồng lúa trải dài bất tận, có một làng nghề đã tồn tại hàng trăm năm, gắn bó với ký ức của bao thế hệ người dân quê lúa.

Đó là làng Nguyễn (xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình cũ, nay là xã Đông Hưng, tỉnh Hưng Yên) - nơi sản sinh ra món Bánh Cáy nức tiếng gần xa.

Không chỉ là một đặc sản, bánh cáy còn là biểu tượng văn hóa, kết tinh sự khéo léo, cần cù và tinh thần gìn giữ truyền thống của người dân nơi đây.

Huyền tích về món bánh “tiến vua”

Theo lời kể của các bậc cao niên trong làng, bánh cáy ra đời từ thế kỷ 18, gắn liền với tên tuổi bà Nguyễn Thị Tần-người được coi là tổ nghề. Sinh năm 1724 trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, bà nổi tiếng thông minh, hiền hậu và đặc biệt khéo léo trong việc chế biến các món ăn.

Tương truyền, khi còn trẻ, bà được vào cung dưới triều vua Lê Hiển Tông và trở thành người chăm sóc, dạy dỗ thái tử Lê Duy Vỹ. Trong thời gian sống nơi cung đình, bà được thưởng thức với nhiều món ăn ngon cầu kỳ, tinh tế. Tuy nhiên, vốn xuất thân từ vùng thôn quê, với mong muốn tạo ra một món bánh độc đáo từ những nông sản sẵn có của quê hương để dâng lên vua, bà đã dày công nghiên cứu, kết hợp các nguyên liệu như gạo nếp, gấc, lạc, vừng… Sau nhiều lần thử nghiệm, món bánh với hương vị thơm ngon, màu sắc hấp dẫn đã ra đời mang đủ hương vị-ngọt, bùi, cay, béo để dâng vua. Ban đầu, bánh được gọi là “bánh ngũ vị”.

Khi dâng lên vua, nhà vua không chỉ khen ngon mà còn ấn tượng với màu sắc sặc sỡ của bánh, gợi liên tưởng đến trứng của loài cáy - một loại cua nhỏ sống ở vùng nước lợ nên vua đã đặt tên cho món bánh này là Bánh Cáy. Từ đó, danh tiếng của Bánh Cáy lan xa và trở thành đặc sản tiến vua nức tiếng gần xa, gắn liền với tên tuổi làng Nguyễn. Cái tên “Bánh Cáy” ra đời và trở thành danh xưng quen thuộc cho đến ngày nay

vnp-banh-cay-2.jpg

Bánh Cáy làng Nguyễn được làm từ những nguyên liệu đơn giản. (Ảnh: PT/Vietnam+)

Cũng có một cách lý giải khác mang màu sắc dân gian: bánh vốn tên là “Bánh Cay” vì có vị gừng nồng ấm, nhưng qua cách phát âm của người dân, dần dần biến thành “Bánh Cáy”. Dù theo cách giải thích nào, tên gọi ấy vẫn mang đậm dấu ấn văn hóa và trí tưởng tượng phong phú của người Việt.

Sau khi rời cung, bà Nguyễn Thị Tần trở về quê hương, truyền dạy nghề làm bánh cho dân làng. Không chỉ giúp người dân có thêm kế sinh nhai, bà còn góp phần hình thành một làng nghề truyền thống tồn tại bền bỉ suốt hơn hai thế kỷ. Để ghi nhớ công lao của bà, người dân đã lập đền thờ và coi bà là vị tổ nghề đáng kính.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nghề làm Bánh Cáy ở Làng Nguyễn vẫn được gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Người dân nơi đây không chỉ xem việc làm bánh là một nghề mưu sinh mà còn là cách để bảo tồn nét đẹp văn hóa ẩm thực của cha ông, là niềm tự hào của quê lúa.

Quy trình chế biến: Tinh hoa từ sự kỳ công

Để làm ra một chiếc bánh cáy tưởng chừng giản dị, người thợ phải trải qua rất nhiều công đoạn công phu, đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm. Mỗi bước đều góp phần tạo nên hương vị đặc trưng không thể trộn lẫn.

Nguyên liệu chính của bánh là gạo nếp cái hoa vàng-loại nếp nổi tiếng thơm dẻo. Gạo được chọn kỹ, sau đó chia thành nhiều phần để chế biến khác nhau. Một phần được đồ xôi với gấc để tạo màu đỏ, phần khác nấu với nước quả dành dành để có màu vàng. Sau khi xôi chín, người thợ giã nhuyễn, cán mỏng rồi thái nhỏ, đem phơi hoặc sấy khô. Những “sợi cáy” này chính là thành phần tạo nên độ giòn đặc trưng của bánh.

Một bí quyết quan trọng là thời gian bảo quản nguyên liệu. Xôi sau khi giã phải để khô trong thời gian dài, thậm chí vài tháng, trước khi đem rang. Nhờ vậy, khi rang lên, “cáy” mới nở xốp, giòn tan mà không bị cứng.

2-5334.png

Các nguyên liệu làm Bánh Cáy làng Nguyễn. (Ảnh minh họa)

Song song với đó là công đoạn chuẩn bị các nguyên liệu phụ. Lạc và vừng được rang chín, xát sạch vỏ. Mỡ lợn phải chọn loại ngon, luộc chín, ướp đường trong nhiều ngày để đạt độ trong, giòn và không ngấy. Gừng tươi, vỏ quýt, cà rốt được xử lý kỹ để giữ hương thơm tự nhiên.

Khi tất cả đã sẵn sàng, người thợ bắt đầu công đoạn quan trọng nhất: sên bánh. Đường mía và mạch nha được đun chảy trên chảo lớn, khuấy đều cho đường sánh lại. Cho gừng vào phi thơm. Sau đó, lần lượt cho mỡ phần đã ướp, “cáy” đã rang giòn, lạc, vừng, dừa sên, mứt bí vào đảo đều tay trên lửa nhỏ. Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải nhanh tay và đều lửa để các nguyên liệu quyện vào nhau mà không bị cháy hay vón cục. Cuối cùng, thêm một chút tinh dầu hoa bưởi để tạo hương thơm.

Khi bánh dậy mùi thơm, hỗn hợp còn nóng được đổ vào khuôn gỗ đã lót sẵn vừng rang hoặc bột nếp rang, Dùng dụng cụ nén chặt bánh xuống để các nguyên liệu kết dính tốt và để bánh nguội hoàn toàn

Công đoạn cuối cùng là cắt bánh. Những miếng bánh vuông vắn, đều tăm tắp được tạo ra bằng đôi tay khéo léo của người thợ. Thành phẩm có màu sắc hài hòa, bề mặt phủ vừng rang, nhìn vừa mộc mạc vừa hấp dẫn.

Sự tỉ mỉ trong từng công đoạn, từ việc chọn nguyên liệu đến kỹ thuật chế biến, đã tạo nên chiếc Bánh Cáy không chỉ ngon miệng mà còn đẹp mắt, thể hiện sự khéo léo và tinh hoa ẩm thực của người dân Làng Nguyễn.

Điều đặc biệt là dù ngày nay đã có sự hỗ trợ của máy móc, nhiều cơ sở vẫn giữ lại các công đoạn thủ công truyền thống để đảm bảo hương vị nguyên bản. Chính sự kiên trì này đã giúp Bánh Cáy làng Nguyễn giữ được “chất riêng” suốt bao năm.

Giữ nghề trong dòng chảy hiện đại

vnp-banh-cay-3.jpg

Bánh Cáy- đặc sản làng Nguyễn quê lúa. (Ảnh: PT/Vietnam+)

Trải qua nhiều biến động của lịch sử và sự thay đổi của thị trường, làng nghề Bánh Cáy vẫn đứng vững và không ngừng phát triển. Từ một món bánh chỉ xuất hiện trong dịp Tết, Bánh Cáy nay đã trở thành sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ rộng rãi trên khắp cả nước.

Hiện nay, xã Nguyên Xá có hàng trăm hộ gia đình tham gia sản xuất Bánh Cáy, với sản lượng lên tới hàng trăm tấn mỗi tháng. Mỗi cơ sở có một bí quyết riêng, tạo nên sự đa dạng trong hương vị nhưng vẫn giữ được nét truyền thống chung.

Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường cũng đặt ra không ít thách thức. Sự cạnh tranh của nhiều loại bánh kẹo hiện đại khiến nghề làm Bánh Cáy có lúc gặp khó khăn. Để thích ứng, người dân đã chủ động đổi mới: đầu tư máy móc, cải tiến bao bì, nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Chính quyền địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển làng nghề. Các chính sách hỗ trợ vốn, quy hoạch khu sản xuất tập trung, tổ chức hội chợ quảng bá… đã giúp sản phẩm Bánh Cáy tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Nhờ đó, thu nhập của người dân ngày càng ổn định, đời sống được nâng cao.

Dẫu vậy, điều đáng quý nhất vẫn là ý thức gìn giữ nghề truyền thống của người dân. Với họ, làm bánh không chỉ là kế sinh nhai mà còn là cách giữ gìn bản sắc văn hóa quê hương. Những người thợ lành nghề vẫn truyền dạy kinh nghiệm cho thế hệ sau, để ngọn lửa làng nghề không bao giờ tắt.

Bánh Cáy không chỉ hấp dẫn bởi cách làm cầu kỳ mà còn bởi hương vị độc đáo. Khi thưởng thức, người ta cảm nhận được sự hòa quyện của nhiều tầng vị: ngọt của đường, bùi của lạc vừng, béo của mỡ, cay nồng của gừng. Tất cả tạo nên một tổng thể hài hòa, vừa đậm đà vừa tinh tế.

Bánh còn mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc khi hội tụ nguyên lý “âm dương ngũ hành” với ngũ sắc và bát vị. Không chỉ ngon miệng, bánh còn được xem là món ăn bổ dưỡng, phù hợp trong những dịp sum họp gia đình.

Thưởng thức Bánh Cáy cùng một tách trà nóng là trải nghiệm trọn vẹn nhất. Vị chát nhẹ của trà làm dịu đi vị ngọt của bánh, tạo nên cảm giác ấm áp, gợi nhớ những buổi chiều đông quây quần bên gia đình.

Từ một món bánh quê giản dị, Bánh Cáy làng Nguyễn đã trở thành biểu tượng ẩm thực của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hơn cả một đặc sản, đó là câu chuyện về con người, về sự sáng tạo và lòng gìn giữ truyền thống.

Trong nhịp sống hiện đại, những miếng bánh nhỏ bé ấy vẫn lặng lẽ mang theo hồn quê, nhắc nhớ mỗi người về cội nguồn và những giá trị bền vững của văn hóa dân tộc./.

Theo Vietnamplus