Doanh nghiệp phải xóa, hủy dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng

05/01/2026 - 19:01

Từ ngày 1/1/2026, khi nhân viên nghỉ việc, doanh nghiệp bắt buộc phải xóa hoặc hủy dữ liệu cá nhân của họ trừ những trường hợp pháp luật hoặc thỏa thuận cho phép tiếp tục lưu giữ.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Bạn đọc Lê Thanh Tùng (phường An Dương, thành phố Hải Phòng) gửi câu hỏi tới tòa soạn về việc khi xin nghỉ thôi việc để chuyển sang làm việc tại đơn vị khác, có thể yêu cầu đơn vị cũ hủy dữ liệu cá nhân của mình?

Trả lời: Liên quan đến vấn đề bạn đọc hỏi, tại khoản 2 Điều 25 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 (có hiệu lực từ 1/1/2026) về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng người lao động. Theo đó, quy định trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, sử dụng người lao động như sau:

"a) Tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về lao động, việc làm, pháp luật về dữ liệu và quy định khác của pháp luật có liên quan;

b) Dữ liệu cá nhân của người lao động phải lưu trữ trong thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận;

c) Phải xóa, hủy dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác".

Như vậy, từ 1/1/2026, khi nhân viên nghỉ việc, doanh nghiệp bắt buộc phải xóa hoặc hủy dữ liệu cá nhân của họ sau khi chấm dứt hợp đồng.

Tại khoản 3 Điều 25 cũng quy định rõ về việc xử lý dữ liệu cá nhân của người lao động được thu thập bằng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật. Theo đó, chỉ được áp dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích của chủ thể dữ liệu cá nhân, trên cơ sở người lao động biết rõ biện pháp đó; không được xử lý, sử dụng dữ liệu cá nhân thu thập từ các biện pháp công nghệ, kỹ thuật trái quy định của pháp luật.

Đáng chú ý, theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, lần đầu tiên người dân được trao quyền yêu cầu xóa dữ liệu của mình khỏi hệ thống của các tổ chức, doanh nghiệp. Cụ thể, chủ thể dữ liệu có thể yêu cầu bên kiểm soát dữ liệu xóa dữ liệu cá nhân trong trường hợp dữ liệu không còn cần thiết cho mục đích thu thập ban đầu; khi chủ thể dữ liệu rút lại sự đồng ý theo quy định tại Điều 12; hoặc khi chủ thể dữ liệu phản đối việc xử lý và bên kiểm soát, xử lý dữ liệu không có căn cứ pháp lý hợp pháp để tiếp tục (khoản 1 Điều 16).

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 8 Luật cũng quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cụ thể, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân thì tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo nhandan.vn