Nối nghiệp nông gia thời công nghệ số

19/02/2026 - 09:57

 - Ở An Giang, những người trẻ lớn lên từ ruộng đồng đang âm thầm tạo nên cuộc chuyển mình mới của nông nghiệp. Nếu anh Lê Văn Hậu ở xã Mỹ Thuận tiếp nối cha mình số hóa cánh đồng lúa thì anh Thùy Văn Duy ở xã Đông Hưng lại cùng cha chinh phục quy trình nuôi tôm công nghệ cao. Hai câu chuyện, hai hành trình nhưng chung một điểm hòa quyện giữa kinh nghiệm của thế hệ trước và tư duy công nghệ của thế hệ sau.

TỪ “CHÂN ĐẤT” ĐẾN CÔNG NGHỆ SỐ

Ít ai hình dung rằng một xã vùng sâu như Mỹ Thuận lại trở thành hình mẫu của tỉnh về sản xuất lúa ứng dụng công nghệ số. Từ những ngày đầu chỉ cơ giới hóa khâu làm đất, thu hoạch, nông dân nơi đây giờ đã quen với những chiếc máy sạ cụm hiện đại, gieo sạ với độ chính xác từng centimet, nhanh gấp nhiều lần so với máy sạ thông thường.

Bước ngoặt lớn đến vào năm 2021, khi hầu hết nông dân trong tỉnh còn lạ lẫm với thiết bị bay không người lái (drone). Lúc ấy, ông Lê Văn Hải, ngụ ấp Phước Tân, đầu tư 350 triệu đồng mua drone để sạ giống và bón phân. Quyết định táo bạo này mở đầu hành trình số hóa cánh đồng Mỹ Thuận.

Trên cánh đồng lúa vừa gieo sạ hơn 10 ngày tuổi, dưới cái nắng như đổ lửa, cả cánh đồng vắng bóng người. Chỉ nghe vang vọng tiếng hai chiếc drone lượn vòng bón phân đợt đầu. Dưới bóng cây ven bờ, ông Hải và con trai Lê Văn Hậu chăm chú nhìn vào màn hình iPad. Cả hai đang lập trình hành trình bay cho drone qua hình ảnh mặt ruộng.

Anh Lê Văn Hậu điều khiển drone bón phân cho lúa.

Hậu - chàng trai trẻ lớn lên ở ruộng đồng giờ là “cánh tay công nghệ” của cha. Nhờ sự hỗ trợ của Hậu, việc lập bản đồ ruộng, phân tích mật độ sạ, thiết lập đường bay drone… đều được thực hiện nhanh và chính xác. Ông Hải tự hào nói: “Một chiếc drone bón được 20ha/giờ. Khi cần, tôi cho vận hành 4 chiếc cùng lúc, chỉ một giờ là xong 700 công đất, nhanh gấp mấy chục lần cách làm truyền thống, nhờ vậy giảm đáng kể chi phí nhân công”.

Hơn 10 năm liên kết sản xuất lúa chất lượng cao xuất khẩu với doanh nghiệp của Nhật, ông Hải đều đặn thu về hàng tỷ đồng mỗi năm. Nhưng với ông, đó chưa phải đích đến. Điều ông trăn trở là làm sao để nông dân quê mình giàu lên từ ruộng đồng bằng công nghệ. 5 năm ứng dụng drone đem lại kết quả rõ rệt, giảm gần 50% lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; lợi nhuận tăng từ 50 lên 70 triệu đồng/ha/năm. 10 vụ liên tiếp, lúa của ông đều đạt chuẩn xuất khẩu và được thưởng thêm 200 đồng/kg.

Không dừng lại ở 2,5ha đất nhà, gia đình ông Hải thuê thêm 20ha, đầu tư 10 drone với tổng kinh phí hơn 4,5 tỷ đồng để làm dịch vụ cho nông dân. Hậu được cha tin tưởng giao quản lý thiết bị, vận hành trơn tru cả hệ thống drone. Giới trẻ am hiểu công nghệ như Hậu giúp mô hình phát huy hiệu quả. “Drone giúp nông dân dùng đủ và đúng vật tư, tiết kiệm chi phí, giảm dư lượng, nâng chất lượng lúa gạo và bảo vệ sức khỏe. Quan trọng hơn, nó giúp giải bài toán thiếu lao động khi thanh niên đi làm xa”, Hậu nói.

Từ câu chuyện của cha con ông Hải và Hậu, xã Mỹ Thuận không chỉ nổi lên như nơi mạnh dạn ứng dụng công nghệ mà còn là minh chứng rõ ràng cho sự tiếp nối giữa hai thế hệ nhà nông. Thế hệ trước tạo nền móng, thế hệ sau kế thừa, đổi mới và đưa nông nghiệp quê nhà tiếp cận số hóa.

TỪ AO ĐẤT ĐẾN TRẠI TÔM CÔNG NGHỆ CAO

Ở ấp Ngọc Thuận, xã Đông Hưng, câu chuyện lập nghiệp của gia đình bà Tôn Thị Phim và con trai út Thùy Văn Duy là minh chứng sống động cho sự tiếp nối giữa hai thế hệ nhà nông, nơi kinh nghiệm truyền đời hòa vào tinh thần học hỏi, mạnh dạn đổi mới của lớp trẻ.

35 năm trước, sau khi lập gia đình, vợ chồng bà Phim lập nghiệp với vài công đất cha mẹ cho. Từ nuôi cá đồng đến làm lúa mùa, rồi chuyển sang nuôi tôm sú, cua… vợ chồng bà đều tự tìm tòi học hỏi. Năm 2008, nghề ép cua giống đem lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi lứa. Bà tích lũy mở rộng diện tích lên hơn 13ha như hiện nay. Nhưng sự trồi sụt của thị trường khiến bà hiểu rằng muốn bền phải đổi mới. Sau nhiều lần lặn lội học tập tại Cà Mau, vợ chồng bà Phim quyết tâm chuyển sang nuôi tôm công nghệ cao.

Thời điểm ấy, quyết định đó đầy rủi ro, chi phí đầu tư mỗi ao lên đến 400 triệu đồng, toàn bộ trại hơn 2 tỷ đồng. 2 năm đầu, bà thất bại vì chưa rành kỹ thuật. Nhưng rồi bà Phim và chồng kiên trì, 3 năm trở lại đây mọi thứ vào guồng, sản lượng 45 - 50 tấn tôm thương phẩm/năm, lợi nhuận hơn 2 tỷ đồng.

Nếu vợ chồng bà Phim là người đặt nền móng thì con trai út Thùy Văn Duy chính là “động cơ” đưa mô hình tiến xa hơn. Học xong lớp 12, Duy quyết định cùng cha nuôi tôm thay vì đi làm xa. Ham tìm tòi, nhanh nhạy với công nghệ, Duy trở thành người trực tiếp vận hành hệ thống nuôi tôm công nghệ cao như một kỹ sư thực thụ.

Anh Thùy Văn Duy cho tôm ăn.

Anh Thùy Văn Duy bên bể vèo tôm giống.

Duy nắm rõ từng công đoạn: “Gây màu nước đẹp rồi mới thả giống. Giống vèo một tháng đạt 400 con/kg mới chuyển qua ao nuôi. Mật độ 250 con/m2, mọi thông số phải chính xác”. Duy kiểm tra nước hằng ngày, phối trộn thuốc đường ruột, canh quạt oxy chạy liên tục để tránh rủi ro cúp điện. 3 ao nuôi, một ao vèo, 3 ao lắng tổng 15.000m² được Duy chăm như phòng thí nghiệm.

Nhờ có sự chăm sóc, quản lý của Duy, mô hình công nghệ cao của gia đình không chỉ duy trì mà còn phát triển bền vững. Những chia sẻ giản dị của Duy như nguồn nước phải được xử lý bằng ao lắng thả cá rô phi, cá đối để ổn định môi trường cho thấy lớp trẻ không chỉ làm theo khuôn mẫu mà thật sự hiểu nghề.

AN LÂM