Doanh nghiệp sẵn sàng hạ tầng, nguồn cung, đẩy nhanh triển khai E10
Sau quá trình chuẩn bị, các doanh nghiệp đang hoàn tất nâng cấp hạ tầng để pha chế, phối trộn và kinh doanh xăng E10. Việc sớm đưa mặt hàng này ra thị trường không chỉ giúp tiết giảm khoảng 10% lượng tiêu thụ xăng khoáng mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trước bối cảnh thị trường đầy biến động.
Ông Lê Trung Hưng, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) cho biết, trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng E10 không chỉ góp phần giảm áp lực nguồn cung mà còn giúp Việt Nam chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động hơn trong việc đảm bảo nguồn cung xăng dầu cho thị trường.
Về năng lực triển khai, ông Hưng cho biết, PV Oil đã chủ động đầu tư hạ tầng. Đến nay, doanh nghiệp đã có 13 điểm pha chế xăng E10 trên toàn quốc, trong đó có 6 điểm có khả năng pha chế đồng thời cả E10, E5 và RON92 theo các hình thức phối trộn và vận hành song song.
“Trong quá trình cung ứng sản phẩm ra thị trường từ tháng 8 đến nay, chúng tôi đã triển khai gần như hoàn thiện việc phân phối theo nhiều phương thức tại 8 địa điểm, phần còn lại đang tiếp tục hoàn thiện. Nhìn chung, hệ thống đã sẵn sàng để cung ứng ra thị trường khi có quy định triển khai đồng bộ trên toàn quốc”, ông Hưng cho hay.
Bên cạnh đó, đại diện PV Oil cho biết, doanh nghiệp đã nâng cấp hệ thống kho chứa và tồn trữ nhiên liệu. Tính đến thời điểm tháng 4/2026 công suất pha chế của PV Oil đạt hơn 300.000 m³/tháng cho hai mặt hàng xăng E10 RON 95 và E5 RON 92. Dự kiến doanh nghiệp tiếp tục đầu tư nâng cấp và đến hết năm 2026, công suất pha chế được nâng lên gần 400.000 m³/tháng.
Đối với nhiên liệu ethanol, ông Hưng nhấn mạnh: “Chúng tôi đã chủ động làm việc với các nhà máy sản xuất ethanol trong nước, đồng thời triển khai nhập khẩu đảm bảo nguồn cung ổn định. Đến nay, lượng tồn kho và nguồn nhập khẩu của doanh nghiệp đã đủ để phục vụ sản xuất và pha chế đến hết tháng 5, và đảm bảo cung ứng tiếp sang đầu tháng 6. Chúng tôi sẵn sàng chủ động nguồn cung E100 cũng như E10 để đáp ứng lộ trình triển khai của Nhà nước, có thể từ mốc 1/6 hoặc sớm hơn nếu được yêu cầu. Đồng thời, doanh nghiệp cũng đã sẵn sàng cho việc kinh doanh đại trà xăng E10 trên toàn hệ thống và phối hợp cung cấp thông tin, dữ liệu khi cần thiết”, ông Hưng khẳng định.

Bể nhiên liệu E100 dùng để phối trộn xăng E10 của Petrolimex.
Trong khi đó, Petrolimex cũng đã chủ động triển khai thí điểm E10 từ tháng 8/2025 tại TP Hồ Chí Minh, đồng thời đầu tư hoàn thiện hệ thống kho bể, công nghệ phối trộn và quy trình kỹ thuật. Hiện doanh nghiệp có 7 điểm pha chế sẵn sàng trên toàn quốc và hơn 2.800 cửa hàng bán lẻ đã chuẩn bị hạ tầng. Đáng chú ý, doanh nghiệp đang xây dựng kịch bản triển khai kinh doanh xăng E10 RON95 trên toàn hệ thống ngay trong tháng 4/2026, sẵn sàng đẩy nhanh tiến độ thay thế hoàn toàn xăng khoáng trước thời hạn nếu điều kiện cho phép.
Không chỉ tập trung trong nước, Petrolimex còn chủ động học hỏi kinh nghiệm quốc tế thông qua các chương trình trao đổi tại Thái Lan, Philippines và Hoa Kỳ nhằm hoàn thiện quy trình kinh doanh, vận chuyển và kiểm soát chất lượng xăng E10.
Song song với hạ tầng kỹ thuật, Petrolimex đặc biệt chú trọng đảm bảo nguồn cung nguyên liệu đầu vào. Theo tính toán, nếu chuyển đổi hoàn toàn sang xăng E10 RON95, Tập đoàn có thể giảm gần 10% lượng xăng khoáng, tương đương khoảng 35.000-40.000 m³ mỗi tháng, qua đó góp phần giảm áp lực nhập khẩu.
Theo Petrolimex, một trong những yếu tố then chốt để xăng E10 được thị trường đón nhận là chất lượng và độ an toàn. Nhìn từ thực tiễn, sau thời gian hơn 8 tháng triển khai thực tế tại TP Hồ Chí Minh, đến nay chưa ghi nhận bất kỳ sự cố hay phản ánh nào từ người tiêu dùng liên quan đến xăng E10. Bên cạnh đó, sản lượng tiêu thụ trong thời gian thí điểm E10 đã tăng khoảng 40% so với thời điểm ban đầu, cho thấy phản ứng ngày càng tích cực từ phía người tiêu dùng.
Cùng với đó, nhằm bảo đảm triển khai xăng sinh học được an toàn, hiệu quả, Tập đoàn đã rà soát toàn diện hệ thống quản lý chất lượng, đồng thời đầu tư các công cụ giám sát nghiêm ngặt nhằm đảm bảo sản phẩm đạt đầy đủ tiêu chuẩn của Nhà nước và doanh nghiệp.
Đồng bộ chính sách, tạo niềm tin thị trường và hoàn thiện hệ sinh thái nhiên liệu sinh học
TS Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) khẳng định, phát triển nhiên liệu sinh học là chủ trương xuyên suốt của Chính phủ. Từ năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt một đề án về nhiên liệu sinh học, tiếp theo là phê duyệt thêm một chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Năm 2020, Bộ Chính trị có nghị quyết về chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Gần nhất, Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị ban hành 8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến 2030, tầm nhìn 2045.
Những văn bản trên đều khẳng định quan điểm xuyên suốt là phải phát triển nhiên liệu sinh học để đa dạng hóa các loại hình năng lượng, có thể thay thế một phần, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nhằm xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, góp phần bảo vệ môi trường, phát triển giao thông xanh, phát thải ròng bằng "0" theo cam kết của Chính phủ tại COP26.

Xăng E10 RON95 được triển khai thí điểm từ tháng 8/2025.
TS Đào Duy Anh cho biết, nguồn nhiên liệu hóa thạch ở mỗi quốc gia có tiềm năng và trữ lượng khác nhau nhưng đều là hữu hạn, sẽ dần cạn kiệt. Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng dầu khí, tuy nhiên với những mỏ đã khai thác hay mới phát hiện có tiềm năng, tuy nhiên theo dự báo khoảng 15 năm tới sẽ dần cạn kiệt. Vì vậy, cần tìm kiếm nguồn nguyên liệu có khả năng tái tạo và nhiên liệu sinh học là một trong những loại nguyên liệu đó.
Đại diện Bộ Công Thương nhấn mạnh vai trò của E10 trong chiến lược năng lượng: “Xăng E10 là một trong những giải pháp Bộ Công Thương đặt ra để bảo vệ môi trường, giảm phụ thuộc xăng khoáng, phát triển kinh tế - xã hội”, đồng thời cho biết nếu phối trộn 10% nhiên liệu sinh học sẽ “giảm phụ thuộc thêm 10% vào xăng khoáng”.
Trước mắt, các doanh nghiệp lớn như Petrolimex và PVOIL, hai doanh nghiệp chiếm tới 75% thị phần xăng dầu của Việt Nam, đã sẵn sàng triển khai phân phối diện rộng xăng E10 ngay theo chỉ đạo của Thủ tướng. Dự kiến từ 15/5, PVOIL và Petrolimex sẽ triển khai bán loại xăng sinh học này trên phạm vi cả nước, sớm hơn lộ trình bắt buộc từ 1/6.
Ở góc độ quốc tế, PGS.TS Phạm Hữu Tuyến cho rằng, các quốc gia phát triển thành công nhiên liệu sinh học đều có một điểm chung quan trọng, đó là sở hữu nguồn nguyên liệu đầu vào dồi dào và ổn định. Ông nhấn mạnh việc chủ động nguyên liệu giúp kiểm soát chi phí, đồng thời cần các chính sách hỗ trợ như ưu đãi thuế, trợ giá để tạo sức cạnh tranh cho nhiên liệu sinh học.
PGS.TS Phạm Hữu Tuyến cũng khuyến nghị Việt Nam cần xây dựng chính sách đồng bộ và ổn định, bao gồm cơ chế hỗ trợ giá, ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiên liệu sinh học. Cùng với đó, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, gắn với nông nghiệp trong nước để chủ động nguồn cung ethanol. Đặc biệt là đầu tư hạ tầng phân phối và tăng cường truyền thông, giúp người dân hiểu đúng và tin tưởng sử dụng.
“Ngoài ra, Việt Nam cũng nên thúc đẩy nghiên cứu công nghệ mới, đặc biệt là sản xuất ethanol thế hệ hai từ phụ phẩm nông nghiệp, nhằm giảm áp lực lên đất trồng và nâng cao hiệu quả môi trường. Nếu triển khai đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển nhiên liệu sinh học theo hướng bền vững, vừa đảm bảo an ninh năng lượng, vừa góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải và phát triển giao thông xanh”, PGS.TS Phạm Hữu Tuyến cho hay.
Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng, cần có những cơ chế ưu đãi đủ mạnh, đủ dài và mang tính đột phá. Cần xem xét áp dụng mức ưu đãi cao hơn, thậm chí miễn thuế trong giai đoạn đầu. Cụ thể, có thể miễn thuế trong 5 năm đầu, sau đó giảm 50% trong 5 năm tiếp theo đối với các sắc thuế như thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Một chu kỳ ưu đãi khoảng 10 năm là cần thiết để nhà đầu tư có đủ niềm tin và động lực tham gia thị trường.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng cho biết thêm, nếu có chính sách đúng và đủ, nhiên liệu sinh học không chỉ là một sản phẩm thay thế, mà còn có thể trở thành một ngành công nghiệp nền tảng, góp phần quan trọng vào mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững của đất nước.