“Đòn bẩy” thay đổi hiệu quả kinh tế
Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Choa, xã Phúc Trạch (Hà Tĩnh) Trần Xuân Loát cho biết, với quy mô hơn 18ha, hằng năm hợp tác xã cung ứng cho thị trường hơn 100 tấn bưởi Phúc Trạch. Trước đây, khi chưa ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, vườn bưởi chỉ đậu quả lác đác, sản lượng không ổn định.
Tuy nhiên, từ khi áp dụng phương pháp thụ phấn bổ sung đã tạo ra bước ngoặt lớn, cây đạt tỷ lệ đậu quả cao. Điều này đã giải quyết triệt để bài toán năng suất. Hợp tác xã còn áp dụng canh tác theo hướng sinh thái, ưu tiên sử dụng phân bón hữu cơ, hầu như không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Quy trình sản xuất sạch đã giúp bưởi của hợp tác xã luôn có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá bán cao và ổn định.
Tỉnh Hà Tĩnh hiện có hơn 12.000ha cây có múi. Trong đó, diện tích bưởi chiếm hơn 4.300 ha, sản lượng khoảng 40.000 tấn. Để nâng cao chất lượng sản phẩm, cơ quan chức năng tỉnh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn thâm canh, chú trọng sử dụng phân bón hợp lý và phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM). Đặc biệt, việc ứng dụng thụ phấn bổ sung cho cây bưởi đạt tỷ lệ hơn 90% đã giúp nâng cao năng suất rõ rệt; cùng với đó, công nghệ bao quả đạt hơn 70% giúp cải thiện hiệu quả mẫu mã sản phẩm.
Tương tự, tại Phú Thọ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Văn Quân cho biết, địa phương đã tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, chuyển giao kỹ thuật trồng, cải tạo đất và canh tác an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ cho người dân. Bên cạnh đó, áp dụng các kết quả nghiên cứu từ Viện Bảo vệ thực vật (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) về quản lý dinh dưỡng và quy trình tổng hợp để tái canh cây cam bền vững. Đồng thời, tập trung cải tạo đất và xử lý triệt để các tác nhân gây hiện tượng vàng lá thối rễ như rệp sáp, tuyến trùng, nấm Fusarium và Phytophthora.
Nhờ vậy, chất lượng cây có múi của địa phương không ngừng được cải thiện. Tổng diện tích toàn tỉnh hiện đạt 15,3 nghìn ha, sản lượng ước đạt 274,5 nghìn tấn. Phú Thọ đã hình thành các vùng sản xuất tập trung như bưởi Đoan Hùng (1.450 ha), bưởi đỏ Hòa Bình (1.087ha); các vùng chuyên canh cam CS1, cam Canh, cam Xã Đoài và vùng sản xuất bưởi Diễn. Nhiều sản phẩm đã xuất khẩu sang các thị trường cao cấp như Liên minh châu Âu (EU), Mỹ, Vương quốc Anh…
Theo Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Huỳnh Tấn Đạt, thời gian qua, nhiều bộ giống mới có năng suất, chất lượng vượt trội đã được chuyển giao thành công vào thực tiễn sản xuất. Bên cạnh đó, trình độ canh tác tại nhiều địa phương được cải thiện rõ rệt thông qua việc áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân thông minh, giúp tối ưu hóa nguồn nước và vật tư nông nghiệp. Đặc biệt, tư duy của người sản xuất đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ lạm dụng hóa chất sang các giải pháp bền vững như tăng cường phân bón hữu cơ và ưu tiên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học để phòng trừ sâu bệnh.
Đáng chú ý, ngành hàng cây có múi cũng ghi nhận những bước tiến trong việc rải vụ thu hoạch, mở rộng diện tích sản xuất an toàn và chú trọng cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Song song đó, công nghệ sau thu hoạch cũng được đầu tư mạnh mẽ với các kỹ thuật bao gói, chế phẩm tạo màng và hệ thống kho lạnh hiện đại, giúp kéo dài thời gian bảo quản và duy trì chất lượng trái tươi. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp còn đầu tư dây chuyền chế biến sâu nhằm đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng.
Tập trung tái canh, hóa giải thách thức dịch bệnh
Dù có nhiều tiềm năng và kết quả khả quan nhưng ngành hàng cây có múi hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhất là từ sâu bệnh. Anh Bàn Văn Tình, xã Tiên Yên (Tuyên Quang) cho biết, cách đây khoảng ba năm, vườn cam 15ha được trồng theo hướng VietGAP của gia đình có biểu hiện của bệnh Greening (vàng lá gân xanh). Chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh lan ra cả vườn cam, thiệt hại rất nặng nề. Trước đây, mỗi năm chúng tôi thu hoạch cả trăm tấn cam, giờ chỉ còn được khoảng 30 tấn.
Tình trạng suy thoái đang diễn ra tại hầu hết các vùng sản xuất, khiến năng suất cây có múi giảm mạnh. Nguyên nhân chính là do sự phát sinh, gây hại phức tạp của sâu bệnh cùng việc canh tác mất cân đối khiến đất suy kiệt, hệ vi sinh vật trong đất nghèo nàn. Theo Viện Bảo vệ thực vật, tổng diện tích cây có múi bị suy thoái đã vượt 16.500ha; trong đó, riêng tại Tuyên Quang có tới gần 6.000ha, Nghệ An gần 4.000ha. Hiện nay, ở các tỉnh như Phú Thọ, Tuyên Quang, Nghệ An và thành phố Cần Thơ, nhiều diện tích cam bị suy thoái tới hơn 50%, không có khả năng phục hồi, phải chặt bỏ.
Ngoài ra, cây có múi còn phải đối mặt với nhiều thách thức khác như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, việc đầu tư, áp dụng kỹ thuật còn hạn chế. Cơ cấu giống chủ yếu là giống địa phương đã thoái hóa, mẫu mã kém và nhiều hạt, làm giảm sức cạnh tranh và gây khó khăn cho chế biến.
Cả nước hiện có 189.000ha cây có múi, sản lượng ước đạt 3,2 triệu tấn/năm. Ngành nông nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2030, ổn định diện tích cây có múi khoảng 270.000-280.000ha, không chạy theo số lượng mà tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm.
Cả nước hiện có 189.000ha cây có múi, sản lượng ước đạt 3,2 triệu tấn/năm. Ngành nông nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2030, ổn định diện tích cây có múi khoảng 270.000-280.000ha, không chạy theo số lượng mà tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm.
Để đạt được mục tiêu, Viện Nghiên cứu Rau quả kiến nghị, cơ quan chức năng cần tiếp tục chuẩn hóa quy trình canh tác, ưu tiên đưa vào sản xuất các giống chống chịu sâu bệnh, giống không hạt, chín rải vụ để đáp ứng nhu cầu thị trường và chế biến. Đồng thời, cần hoàn thiện quy trình nhân giống sạch bệnh, canh tác tiên tiến và cải thiện sức khỏe đất, công nghệ sau thu hoạch phù hợp với từng vùng.
Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết, trong thời gian tới, ngành trồng trọt sẽ tiếp tục nghiên cứu giống cây có chất lượng tốt và kháng bệnh hại chính, nhất là bệnh Greening. Đồng thời, hoàn thiện quy trình canh tác cho nhóm cây có múi phù hợp với từng vùng sinh thái, từ quản lý nguồn giống, lựa chọn vùng canh tác bảo đảm an toàn về nguồn nước, đất. Bên cạnh đó, thực hiện tái canh diện tích già cỗi, thoái hóa bằng giống sạch bệnh, mở rộng diện tích sản xuất an toàn thực phẩm, sản xuất có chứng nhận, tăng cường mở rộng cấp mã số vùng trồng, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu. Áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, bảo quản và chế biến sản phẩm cây ăn quả. Cùng với đó, đẩy mạnh quảng bá, mở rộng thị trường, phát triển chế biến sâu cho các sản phẩm cây có múi…
Theo Nhandan.vn




Đọc nhiều