Câu chuyện từ một vuông tôm
Giữa vùng nuôi tôm - lúa ở xã An Minh, ông Danh Oanh vẫn đều đặn chăm sóc vuông tôm rộng hơn 1,5ha theo cách mà ông gọi là thuận tự nhiên: Không thức ăn công nghiệp, không thuốc, không hóa chất, con tôm lớn lên nhờ nguồn thức ăn sẵn có trong môi trường.
“Tôi nuôi tôm quảng canh không xài thuốc hay hóa chất gì, từ cải tạo ao đến gây màu nước tạo thức ăn cho tôm cũng chỉ dùng men vi sinh. Nghĩ là tôm sạch rồi, nhưng bán cho thương lái thì giá cũng bình thường, đâu có ai mua giá cao hơn tôm công nghiệp”, ông Oanh nói.

Nông dân nuôi tôm chủ yếu bán qua thương lái nên giá bấp bênh.
Ông Oanh nhẩm tính, nếu được bán giá cao hơn tôm thường khoảng 20.000/kg, với sản lượng mỗi vụ 300 - 400kg, ông có thể thu thêm 10 triệu đồng/vụ.
“Tôi và nhiều bà con muốn bán tôm được giá cao hơn để xứng đáng với chất lượng con tôm mình nuôi theo hướng tự nhiên mà không biết bắt đầu từ đâu để được cấp chứng nhận tôm sạch”, ông Oanh nói.
Câu chuyện của ông Oanh không phải cá biệt, phản ánh một nghịch lý đang tồn tại ở nhiều vùng nuôi tôm quảng canh đó là làm ra sản phẩm sạch nhưng lại không thể chứng minh để được trả đúng giá trị.
Ở các xã vùng U Minh Thượng, mô hình tôm quảng canh, tôm - lúa từ lâu được xem là hướng nuôi bền vững. Người dân tận dụng tự nhiên, hạn chế can thiệp, giữ cân bằng hệ sinh thái. Tuy nhiên, khi bước ra thị trường, đặc biệt là thị trường có yêu cầu cao, “sạch” không thể chỉ dựa vào lời khẳng định của người nuôi.

Quy mô nhỏ lẻ, sản lượng thấp khiến tôm quảng canh khó xây dựng một bộ tiêu chuẩn chung.
Thực tế, trở ngại không nằm ở chất lượng con tôm mà nằm ở chỗ thiếu bằng chứng cụ thể. Khác với nuôi công nghiệp có quy trình kiểm soát rõ ràng, mô hình quảng canh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và ý thức. Việc không sử dụng hóa chất, kháng sinh rất khó xác nhận nếu không có hệ thống giám sát độc lập.
Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh An Giang Lâm Quốc Toàn nói: “Bà con nuôi rất tốt, nhưng cái khó hiện nay là bà con nuôi tôm sinh thái chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa có thói quen ghi chép hay hệ thống truy xuất nguồn gốc nên dù tôm sạch vẫn khó chứng minh với thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu đang dần khắt khe hơn”.
Sản xuất nhỏ lẻ, thiếu tiêu chuẩn chung
Cũng theo ông Lâm Quốc Toàn, qua làm việc với các doanh nghiệp thu mua xuất khẩu, một điểm nghẽn lớn khác trong việc xây dựng thương hiệu cho tôm các vùng quảng canh là tính nhỏ lẻ và thiếu đồng nhất trong sản xuất. Mỗi hộ nuôi một cách, phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng vuông tôm nên khó xây dựng một bộ tiêu chuẩn chung.
Khi không có sự đồng bộ, việc tạo dựng niềm tin với thị trường trở nên khó khăn. Doanh nghiệp thu mua cũng gặp rủi ro khi không thể kiểm soát chất lượng đầu vào. Trong khi đó, các chứng nhận “tôm sạch” hay tiêu chuẩn quốc tế lại yêu cầu quy trình nghiêm ngặt, từ con giống, môi trường nước đến nhật ký sản xuất. Điều này vượt quá khả năng của nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ. Với thu nhập bấp bênh, việc bỏ ra hàng chục triệu đồng mỗi năm để duy trì chứng nhận là điều không dễ với nông dân.

Nông dân xã An Biên thu hoạch tôm càng xanh nuôi quảng canh.
Không chỉ khó chứng minh “sạch”, người nuôi còn đối mặt với sự bấp bênh trong đầu ra. Ông Trần Văn Hoàng, ngụ ấp Kinh 1A, xã Đông Thái, cho biết: “Nào giờ nuôi tôm xen canh với lúa toàn bán cho thương lái. Tới vụ thu hoạch thương lái cho giá bao nhiêu thì bán bấy nhiêu, chứ cũng không có kênh nào khác nên giá bấp bênh. Thấy nhiều nơi nông dân liên kết bán lúa trên nền đất nuội tôm trực tiếp doanh nghiệp, còn con tôm thì chưa thấy doanh nghiệp đặt hàng".
Điều khiến ông lo lắng hơn là câu chuyện sau khi con tôm rời khỏi ao nuôi. “Nhiều khi bán xong, vài bữa xem thời sự thấy cơ quan chức năng bắt lô tôm nhiễm chất cấm, mình nhìn mà đau lòng. Biết là tôm mình nuôi ra không có, nhưng qua tay thương lái họ can thiệp, làm giảm chất lượng, ảnh hưởng uy tín người nuôi”, ông Hoàng cho biết.
Trong chuỗi giá trị hiện nay, nông dân gần như không kiểm soát được những khâu phía sau. Điều này khiến “tôm sạch” có nguy cơ bị đánh đồng với sản phẩm không đảm bảo chất lượng.
Một thực tế đáng chú ý là mô hình nuôi càng ít can thiệp, càng dựa vào tự nhiên thì lại càng khó chuẩn hóa. Không giống nuôi công nghiệp có thể kiểm soát từng yếu tố, tôm sinh thái chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường.
Chính điều này khiến việc xây dựng các tiêu chí đánh giá trở nên phức tạp. Và nghịch lý ở chỗ mô hình được xem là bền vững, thân thiện môi trường lại gặp khó trong việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật hiện đại về truy xuất và chứng nhận.
Từ sản xuất sạch đến chứng minh sạch
Theo ông Trần Hoàng Hây, Chi hội trưởng Chi hội nghề nghiệp nuôi tôm - lúa Cái Nước Vàm, xã An Biên để con tôm sạch có giá trị, cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía.
“Chi hội có 21 hộ sản xuất hơn 50ha tôm - lúa. Bà con ở đây mong được Nhà nước với doanh nghiệp hỗ trợ quy trình nuôi tôm sạch, có truy xuất nguồn gốc đàng hoàng. Làm ra con tôm chất lượng thì có nơi bao tiêu, mua với giá ổn định để bà con có lời, yên tâm gắn bó lâu dài, không còn cảnh trúng mùa mà rớt giá. Có vậy mới từng bước gây dựng được thương hiệu tôm sạch của vùng mình", ông Hây đề xuất.
Câu chuyện tôm quảng canh cho thấy một khoảng trống lớn giữa sản xuất và thị trường. Người nông dân đã thay đổi cách nuôi theo hướng bền vững, nhưng hệ thống hỗ trợ để ghi nhận và định giá đúng giá trị đó vẫn chưa theo kịp.

Hội viên nông dân ở Chi hội nghề nghiệp nuôi tôm - lúa Cái Nước Vàm thu hoạch tôm.
Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh An Giang Lâm Quốc Toàn cho biết, thời gian tới Hội sẽ tập trung hỗ trợ xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi tôm sinh thái làm điểm, hướng dẫn nông dân ghi chép nhật ký sản xuất, áp dụng truy xuất nguồn gốc bằng mã QR; đồng thời phối hợp ngành nông nghiệp rà soát, công nhận vùng nuôi đạt tiêu chí và kết nối doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu".
Bên cạnh đó, Hội Nông dân tỉnh An Giang sẽ thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị bền vững, gắn người nuôi với doanh nghiệp chế biến, đơn vị cung ứng đầu vào và thị trường tiêu thụ, nhằm kiểm soát đồng bộ chất lượng và minh bạch quy trình. Hội cũng đề xuất hỗ trợ chi phí chứng nhận bước đầu để nông dân tiếp cận tiêu chuẩn. Khi có liên kết chặt chẽ từ nuôi đến tiêu thụ, con tôm sạch mới được định giá đúng và đi xa hơn.
| Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh An Giang Lâm Quốc Toàn nói: "Với hơn 100.000ha tôm nuôi quảng canh xen lúa, đây là vùng sản xuất lớn, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu ngành tôm của tỉnh An Giang. Đây cũng là mô hình thích ứng biến đổi khí hậu, giúp nông dân thoát nghèo vươn lên khá giả. Nếu không có giải pháp căn cơ để hỗ trợ bà con nuôi quảng canh nâng cao giá trị, đặc biệt là khâu chứng minh chất lượng và tổ chức lại sản xuất thì sẽ rất lãng phí tiềm năng của một vùng nuôi sinh thái quy mô lớn”. |
Bài và ảnh: ĐẶNG LINH