Bài toán thất thoát của ngành cá tra

25/05/2026 - 05:00

 - Cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu ngày càng gay gắt. Vì vậy, giảm thất thoát trong sản xuất, nâng chất lượng và khai thác hiệu quả phụ phẩm được xem là hướng đi giúp ngành cá tra tăng giá trị và phát triển bền vững.

Chế biến cá tra xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Nam Việt. Ảnh: HẠNH CHÂU

Khi nhắc đến ngành hàng cá tra, nhiều người thường nói nhiều về sản lượng, năng suất hay kim ngạch xuất khẩu. Thế nhưng, phía sau những con số tăng trưởng ấy vẫn còn một “khoảng trống” ít được chú ý hơn, đó là tình trạng thất thoát trong toàn bộ chuỗi giá trị ngành hàng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tất Thắng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, thất thoát không đơn thuần là mất đi một phần sản phẩm. Đó còn là sự lãng phí thức ăn, con giống, công lao động, chất lượng sản phẩm và thậm chí là đánh mất lợi thế cạnh tranh của cả chuỗi giá trị. Nếu giảm được thất thoát, ngành cá tra không chỉ tăng hiệu quả kinh tế mà còn cải thiện sinh kế người dân, giảm áp lực môi trường và phát triển bền vững hơn.

Từ thực tế đó, Viện Nghiên cứu chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe phối hợp các đơn vị liên quan triển khai dự án nghiên cứu “Thất thoát thực phẩm trong chuỗi giá trị cá da trơn (cá tra) ở lưu vực sông Mekong”. Thạc sĩ Trịnh Thị Lan - giảng viên Bộ môn Thủy sản, Trường Đại học An Giang, đồng thời là điều phối dự án tại Việt Nam cho biết, dự án tập trung khảo sát tại những địa bàn trọng điểm của chuỗi ngành hàng cá tra, đặc biệt là An Giang và Vĩnh Long.

Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy thất thoát đang diễn ra ở hầu hết các công đoạn của chuỗi sản xuất. Theo Thạc sĩ Võ Văn Ốc - Trường Đại học An Giang, thất thoát xuất hiện từ khâu con giống, ương giống, nuôi thương phẩm cho đến thu hoạch, vận chuyển, chế biến và phân phối. Đáng chú ý, ở giai đoạn sản xuất, hiệu quả kỹ thuật còn thấp, tỷ lệ thất thoát thực tế trong quá trình nuôi lên tới 30 - 50%. Nguyên nhân đến từ nhiều yếu tố như chất lượng con giống chưa ổn định, môi trường nuôi biến động, kỹ thuật quản lý chưa đồng đều. Trong nhiều trường hợp, tỷ lệ cá chết có thể lên tới 80%, gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi.

Không chỉ vậy, các loại bệnh do vi khuẩn cũng khiến nhiều hộ nuôi cá tra rơi vào cảnh thua lỗ. Chi phí đầu tư tăng nhưng năng suất và chất lượng đầu ra không ổn định khiến lợi nhuận ngày càng thu hẹp. Tuy nhiên, “điểm nóng” thất thoát lớn nhất lại nằm ở khâu chế biến. Theo nghiên cứu, để sản xuất 1kg phi lê cá tra thành phẩm cần khoảng 2,8kg cá nguyên liệu. Điều này đồng nghĩa lượng phụ phẩm và hao hụt chiếm tới khoảng 65% nếu không được tận dụng để chế biến sâu. Hiện nay, mỗi năm doanh nghiệp vẫn còn lãng phí khoảng 50% phụ phẩm, tương đương 276.000 tấn chưa được khai thác hiệu quả. Đây không chỉ là câu chuyện hao hụt nguyên liệu, mà còn phản ánh bài toán về giá trị gia tăng và khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng của ngành cá tra.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Nguyện - Giám đốc Trung tâm APOTEC, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam nhận định, ngành cá tra Việt Nam đã phát triển mạnh suốt hơn 2 thập kỷ qua và trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực về thủy sản nước ngọt. Năm 2025, diện tích nuôi cá tra cả nước đạt khoảng 5.500ha, sản lượng khoảng 1,74 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu hơn 2,2 tỷ USD. Song song với tốc độ tăng trưởng ấy là lượng phụ phẩm phát sinh rất lớn, ước khoảng 700.000 - 900.000 tấn mỗi năm.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Nguyện đánh giá: “Nếu được khai thác đúng hướng, đây sẽ là nguồn nguyên liệu có giá trị cao phục vụ nhiều lĩnh vực khác nhau. Các phụ phẩm như đầu, xương, da, mỡ, nội tạng hay thịt vụn cá tra đều có thể trở thành nguyên liệu cho ngành thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, thức ăn chăn nuôi hoặc nông nghiệp hữu cơ. Điều này cho thấy hướng đi tất yếu của ngành cá tra không còn là chạy theo sản lượng đơn thuần, mà phải chuyển sang nâng cao chất lượng, chế biến sâu và phát triển theo mô hình kinh tế tuần hoàn”.

Từ kết quả nghiên cứu, nhiều chuyên gia đề xuất cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ kỹ thuật, quản trị đến liên kết thị trường và chính sách hỗ trợ. Trong đó, doanh nghiệp cần mạnh dạn đầu tư công nghệ chế biến sâu, nâng cấp hệ thống bảo quản lạnh, phát triển đội ngũ lao động có tay nghề và từng bước xây dựng mô hình sản xuất bền vững. Đặc biệt, việc đầu tư công nghệ chiết xuất collagen, dầu cá hay bột cá từ phụ phẩm sẽ giúp chuyển phần “thất thoát” trước đây thành sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư An Giang Nguyễn Hoàng Huy cho biết, Việt Nam đã xác định cá tra là sản phẩm chủ lực quốc gia và xây dựng định hướng phát triển dài hạn đến năm 2045 với nhiều giải pháp đồng bộ. Những kết quả nghiên cứu về thất thoát trong chuỗi giá trị sẽ là cơ sở quan trọng để ngành thủy sản ứng dụng vào thực tiễn quản lý và phát triển trong thời gian tới.

HẠNH CHÂU