Đường Hạnh Phúc - nơi tuổi xuân hóa thành huyền thoại

22/05/2026 - 14:55

Giữa tầng tầng đá xám của Cao nguyên đá Đồng Văn, có một con đường quanh co men theo vách núi, đi qua những vực sâu hun hút và những bản làng cheo leo nơi cực Bắc Tổ quốc. Người ta gọi đó là con đường Hạnh Phúc.

Tên gọi ấy nghe thật bình yên. Nhưng để có được con đường dài gần 200 km nối thành phố Hà Giang với Đồng Văn, Mèo Vạc hôm nay, hàng nghìn thanh niên xung phong đã phải đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tuổi xuân của mình.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, đá núi vẫn im lặng giữa mây trời biên viễn. Nhưng ký ức về những ngày mở đường năm ấy vẫn còn nguyên trong lòng những người từng đi qua cuộc trường chinh đặc biệt ấy.

Con đường Hạnh Phúc như dải lụa mềm vắt trên những triền núi cao hùng vĩ của cao nguyên đá Đồng Văn.

Con đường Hạnh Phúc như dải lụa mềm vắt trên những triền núi cao hùng vĩ của cao nguyên đá Đồng Văn.

Treo mình trên đá mở đường

Cuối những năm 1950, Cao nguyên đá Đồng Văn gần như bị cô lập. Hơn 8 vạn đồng bào các dân tộc sống phía sau “cổng trời” quanh năm đói nghèo, lạc hậu vì không có đường giao thông.

Năm 1959, Trung ương quyết định mở tuyến đường ô tô từ thị xã Hà Giang lên Đồng Văn, Mèo Vạc. Công trình được khởi công ngày 10/9/1959, hoàn thành ngày 10/3/1965. Tuyến đường sau này mang tên Quốc lộ 4C, nhưng người dân nơi đây gọi bằng cái tên gần gũi hơn: đường Hạnh Phúc. Đó là con đường được làm hoàn toàn bằng sức người.

Hơn 1.200 thanh niên xung phong cùng hàng nghìn dân công đến từ nhiều tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên, Nam Định, Hải Dương… đã lên vùng đá xám Hà Giang mở đường. Không máy móc hiện đại. Không thiết bị bảo hộ. Chỉ có xà beng, búa, choòng, cuốc xẻng và đôi bàn tay tuổi trẻ.

Khó khăn nhất là đoạn đèo Mã Pì Lèng - nơi được ví như “vua” của các cung đèo Việt Nam. Vách đá dựng đứng hàng trăm mét, phía dưới là dòng Nho Quế sâu hun hút. Muốn mở đường, công nhân phải treo mình lơ lửng trên vách đá để khoan lỗ, nhét mìn phá đá.

Để chi ân các thanh niên xug phong và dân công mở đường Hạnh Phúc, Nhà ước đã xây dựng tượng đài trên đèo Mã Pì lèng.

Để tri ân các thanh niên xung phong và dân công mở đường Hạnh Phúc, Nhà nước đã xây dựng tượng đài trên đèo Mã Pì lèng.

Ông Nguyễn Mạnh Thùy, nguyên Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong tỉnh Hà Giang, từng tham gia công trường Đồng Văn, nhớ lại: “Thế hệ chúng tôi ngày ấy sống khác thanh niên bây giờ lắm. Đất nước gọi là đi, Hà Giang cần là lên đường. Không ai nghĩ gian khổ thế nào, cũng chẳng ai tính thiệt hơn. Chỉ nghĩ đơn giản rằng mình đang góp một phần tuổi trẻ cho Tổ quốc”.

Theo ông Thùy, những năm mở đường Hạnh Phúc là quãng đời gian khó nhưng cũng đẹp nhất của lớp thanh niên thời ấy. “Có những đoạn đá dựng đứng, anh em phải treo mình hàng tháng trời để đục đá mở đường. Nhiều người ngã xuống, nhiều người mang thương tật suốt đời nhưng chưa bao giờ hối tiếc”, ông xúc động nói.

Những người từng sống trên công trường năm ấy kể rằng, mỗi ngày một thanh niên xung phong chỉ được cấp khoảng một kilôgam gạo. Giữa núi đá khô cằn, nước hiếm, rau xanh thiếu thốn, cuộc sống vô cùng khắc nghiệt. Nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là hiểm nguy luôn cận kề.

Những năm mở đường Hạnh Phúc, cuộc sống trên công trường Đồng Văn thiếu thốn đủ bề. Giữa núi đá khô cằn, nước sinh hoạt hiếm đến mức mỗi người phải chắt chiu từng ca nhỏ để vừa rửa mặt vừa dành cho công việc khoan đá. Có thời điểm, thanh niên xung phong phải ăn cơm độn ngô, rau rừng thay rau xanh. Những lán trại dựng tạm cheo leo bên sườn núi, mùa đông gió lạnh quất qua vách bạt, mùa hè đá núi hắt nóng như nung.

Vậy nhưng giữa gian khó, tiếng hát tuổi trẻ vẫn vang lên mỗi đêm trên công trường. Những chàng trai, cô gái tuổi mười tám đôi mươi khi ấy mang theo cả lý tưởng và khát vọng cống hiến của một thế hệ “Đâu cần thanh niên có - Đâu khó có thanh niên”.

Có người chết vì đá rơi. Có người trượt chân xuống vực. Có người hy sinh vì sốt rét ác tính khi tuổi đời còn rất trẻ.

Những người từng làm đường năm ấy vẫn nhớ vụ sập đá ở Mã Pì Lèng khiến một số thanh niên xung phong hy sinh khi đang treo mình khoan đá mở đường. Có đồng đội nằm lại mãi dưới khe đá sâu, nhiều ngày sau mới tìm thấy thi thể. Những mất mát ấy khiến con đường Hạnh Phúc được gọi bằng một cái tên khác: “con đường của máu và hoa”.

Trong số ấy có Lương Quốc Chanh, chàng trai xứ Lạng tình nguyện lên Hà Giang mở đường. Trước lúc qua đời vì sốt rét ác tính ngày 8/8/1961, anh vẫn nắm tay đồng đội dặn dò: “Tôi sẽ nằm mãi bên vệ đường Đồng Văn. Mai này đường Hạnh Phúc mở xong, anh chị em lại về quê hương xứ Lạng. Có còn ai nhớ tôi không? Tôi sẽ nhớ mọi người lắm đấy…”.

Câu nói ấy đến hôm nay vẫn khiến nhiều người nhắc lại mà nghẹn lòng.

Từ đá núi đến miền hạnh phúc

Sinh thời, ông Sùng Đại Dùng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tuyên, người từng trực tiếp tham gia chỉ đạo công trường mở đường Hạnh Phúc, nhiều lần nhắc đến tinh thần quả cảm của thanh niên xung phong và đồng bào vùng cao.

Theo những tư liệu còn lưu lại, ông cho rằng những năm ấy cả cao nguyên đá gần như tách biệt với miền xuôi. Không có đường, đồng bào phía sau cổng trời quanh năm đói nghèo, vì thế dù gian khổ đến mấy, ai cũng quyết tâm mở bằng được con đường này.

Trên con đường Hạng Phúc đã hình thành nhiều điểm rừng chân lý tưởng, để khách du lịch trải nghiệm, ngắm cảnh.

Trên con đường Hạnh Phúc đã hình thành nhiều điểm dừng chân lý tưởng, để khách du lịch trải nghiệm, ngắm cảnh.

Trong ký ức của nhiều cựu thanh niên xung phong, đoạn Mã Pì Lèng là nơi ám ảnh nhất. Có những khúc đá chỉ cần nhìn xuống vực đã thấy lạnh người, vậy mà hàng trăm thanh niên vẫn treo mình trên vách đá để khoan đá, nhét mìn mở đường.

Suốt gần 6 năm, hơn 2 triệu ngày công đã đổ xuống công trình. Riêng đoạn Mã Pì Lèng, công nhân mất 11 tháng treo mình trên vách đá để mở đường. Có những người đã hòa mình vào con đường mãi mãi.

Nhiều cựu thanh niên xung phong đến nay vẫn day dứt vì đồng đội hy sinh nhưng chưa được ghi nhận đầy đủ. Có người nằm lại giữa núi rừng mà tên tuổi dần chìm vào quên lãng. Thế nhưng, chưa bao giờ họ nghĩ mình thiệt thòi. Bởi điều họ mong mỏi hơn cả là nhìn thấy vùng đá tai mèo năm nào đổi thay. Và điều ấy giờ đã thành hiện thực.

Ngày nay, con đường Hạnh Phúc không chỉ nối liền vùng Cao nguyên đá Đồng Văn với miền xuôi mà còn mở ra cánh cửa phát triển cho vùng cực Bắc Tổ quốc. Điện, trường học, trạm y tế, du lịch, giao thương… từng bước hiện diện trên miền đá xám.

Từ một vùng đất gần như tách biệt với miền xuôi, Cao nguyên đá Đồng Văn hôm nay đã trở thành điểm đến nổi tiếng trên bản đồ du lịch Việt Nam. Những homestay nép mình bên sườn núi, những phiên chợ vùng cao rực rỡ sắc màu, những cung đường mùa hoa tam giác mạch… đang từng ngày mang lại sinh kế mới cho đồng bào các dân tộc nơi đây.

Con đường Hạnh Phúc không chỉ mở lối giao thông mà còn mở ra cơ hội đổi thay cho bao thế hệ người Mông, Dao, Tày, Lô Lô trên miền đá xám. Nhiều bản làng trước kia heo hút giờ đã có điện sáng, trẻ em được đến trường thuận lợi hơn, du lịch cộng đồng phát triển, đời sống người dân từng bước nâng lên.

Khách du lịch từ khắp nơi đổ về Cao nguyên đá Đồng Văn mỗi năm một đông. Núi đôi Quản Bạ, phố cổ Đồng Văn, cột cờ Lũng Cú, hẻm vực Tu Sản, dòng sông Nho Quế xanh biếc… đã trở thành những điểm đến nổi tiếng.

Đứng trên đỉnh Mã Pì Lèng trong chuyến trở lại Cao nguyên đá Đồng Văn, cựu chiến binh Nguyễn Đức Mạnh, Phó Chủ tịch Hội Cựu thanh niên xung phong tỉnh Tuyên Quang lặng người khi nghe câu chuyện về những thanh niên xung phong mở đường năm xưa.

“Đi qua con đường này mới thấy hết giá trị của hòa bình và sự hy sinh của thế hệ đi trước. Nếu không có họ, sẽ không có một Cao nguyên đá Đồng Văn đẹp và nổi tiếng như hôm nay”, ông Mạnh chia sẻ.

Chiều muộn, mây từ vực Nho Quế chầm chậm dâng lên sườn núi. Từng đoàn xe nối nhau vượt đèo Mã Pì Lèng giữa gió núi lồng lộng.

Ít ai biết rằng dưới lớp đá lạnh lẽo kia là biết bao mồ hôi, máu và tuổi trẻ của một thế hệ thanh niên đã gửi lại đời mình nơi cực Bắc.

Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, con đường hôm nay mang tên Hạnh Phúc. Một cái tên giản dị nhưng được đánh đổi bằng sự hy sinh phi thường của những con người bình dị nhất. Giữa trùng điệp đá xám Đồng Văn, tiếng choòng đục đá năm xưa dường như vẫn còn vọng lại như lời nhắc nhớ về một thế hệ đã viết tuổi xuân mình vào đá núi biên cương.

Theo Baotuyenquang.com.vn