Việt Nam tăng tốc phủ sóng 5G, hướng tới làm chủ toàn diện công nghệ

02/05/2026 - 14:51

Với nền tảng kết nối tốc độ cao, độ trễ thấp, 5G đóng vai trò là một trong những trụ cột quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số toàn diện trong các lĩnh vực, từ kinh tế số, chính phủ số.

(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

(Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Trong kỷ nguyên số, 5G không đơn thuần là một bước tiến trong ngành viễn thông mà đã trở thành hạ tầng chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.

Với nền tảng kết nối tốc độ cao, độ trễ thấp, 5G đóng vai trò là một trong những trụ cột quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số toàn diện trong các lĩnh vực, từ kinh tế số, chính phủ số đến hỗ trợ đổi mới sáng tạo và phát triển các công nghệ số.

Chiến lược phát triển 5G của Việt Nam được thể hiện cụ thể trong các chính sách về công nghệ số và hạ tầng số quốc gia.

Từ năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã đặt mục tiêu "phải làm chủ thiết kế, nghiên cứu, sản xuất thiết bị 5G như một biểu tượng của năng lực tự chủ công nghệ quốc gia." Việc thiết bị và hệ thống mạng di động 5G có mặt trong danh mục 6 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay cho thấy mục tiêu rõ ràng của Đảng và Nhà nước ta trong hành trình chuyển đổi số cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Cuộc cách mạng công nghệ của ngành viễn thông

5G (5th Generation) là thế hệ thứ năm của công nghệ di động không dây với những cải tiến vượt bậc so với các thế hệ trước như 3G, 4G. Mạng 5G có tốc độ kết nối nhanh gấp 10 lần 4G, độ trễ gần như bằng 0, giúp truyền tải dữ liệu mượt mà và nhanh chóng, mang đến trải nghiệm tối ưu cho người dùng.

Triển khai và sử dụng mạng 5G mang lại nhiều lợi ích. Với tốc độ truyền tải dữ liệu nhanh hơn và độ trễ thấp hơn, người dùng có thể trải nghiệm các dịch vụ trực tuyến chất lượng cao hơn như video 4K/8K, thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR). 5G hỗ trợ kết nối hàng tỷ thiết bị internet vạn vật (IoT), mở ra cơ hội cho các ứng dụng như nhà thông minh, thành phố thông minh và tự động hóa công nghiệp.

Bên cạnh đó, 5G cho phép thực hiện các ca phẫu thuật từ xa, giám sát bệnh nhân theo thời gian thực và cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe; hỗ trợ giao tiếp giữa các phương tiện và cơ sở hạ tầng giao thông, giúp cải thiện an toàn và hiệu quả của hệ thống giao thông. Triển khai 5G cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp mới, tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Hạ tầng 5G được xây dựng dựa trên ba yếu tố cốt lõi: trạm gốc (gNodeB), mạng lõi (Core Network) và công nghệ truyền dẫn (Backhaul & Fronthaul). Bên cạnh đó, phổ tần số và băng tần 5G đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hiệu suất hoạt động. Các thành phần này tạo nên một hệ sinh thái mạng mạnh mẽ, giúp 5G trở thành nền tảng quan trọng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Việt Nam thuộc top những quốc gia đi đầu trên thế giới về triển khai mạng 5G. Trong năm 2024-2025, ba doanh nghiệp viễn thông hàng đầu Việt Nam là Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và Tổng Công ty Viễn thông MobiFone (MobiFone) dựa trên năng lực đã triển khai thương mại hóa 5G với những mục tiêu khác nhau vừa phát huy thế mạnh sẵn có, vừa bảo đảm tính cạnh tranh.

Theo Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, đến tháng 12/2025, vùng phủ sóng 5G thương mại đạt 91,2% dân số toàn quốc, đưa Việt Nam vào nhóm có tốc độ triển khai 5G nhanh nhất thế giới.

Tuy nhiên, hành trình đưa 5G trở thành nền tảng hạ tầng số quốc gia ở Việt Nam đòi hỏi nguồn lực lớn cả về tài chính và kỹ thuật. 5G yêu cầu xây dựng số lượng lớn trạm gốc với mật độ cao để đảm bảo vùng phủ sóng ổn định. Nhiều thiết bị trong mạng truy nhập, mạng lõi và truyền dẫn đều cần được nhập khẩu, trong khi giá thiết bị 5G khá đắt đỏ.

Bên cạnh đó, xây dựng và vận hành mạng 5G đòi hỏi đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực viễn thông-công nghệ thông tin. Hệ thống đào tạo chưa cập nhật kịp thời chương trình giảng dạy phù hợp với các xu hướng công nghệ mới như 5G khiến khoảng cách giữa yêu cầu thực tế và năng lực nhân lực ngày càng lớn.

den-nay-viettel-da-vuot-cam-ket-xay-moi-20000-tram-5g-large.jpg

Việc hệ thống và thiết bị mạng 5G là một trong 6 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay theo Quyết định số 2815/QĐ-TTg ngày 28/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước phát triển công nghệ chiến lược theo hướng đi vào thực chất: xác định rõ công nghệ lõi cần làm chủ, đơn vị chịu trách nhiệm xuyên suốt, lộ trình thương mại hóa và khả năng lan tỏa kết quả vào phát triển kinh tế-xã hội.

Hiện thực hóa giấc mơ 5G "Make in Vietnam"

Kết luận phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ngày 18/3/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo nhấn mạnh, phát triển công nghệ chiến lược là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là vấn đề chiến lược quốc gia, liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ công nghệ và vị thế của đất nước trong giai đoạn mới.

Với hệ thống và thiết bị mạng 5G, tại Quyết định số 2815/QĐ-TTg ngày 28/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ mục tiêu đến năm 2027 làm chủ 100% công nghệ thiết kế, sản xuất, kiểm thử và tối ưu hóa các thành phần chính của mạng 5G/5G Advanced (RAN, Site Router, 5G Core); làm chủ thiết kế các chip tương tự RF trong hệ thống mạng 5G-5G Advaned; đáp ứng tối thiểu 15% nhu cầu thiết bị mạng 5G/5G Advance trong nước.

Làm chủ 5G không những được xem là động lực trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia số mà còn có ý nghĩa chiến lược bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng. Thực tế triển khai, nhiều doanh nghiệp trong nước đã bước đầu làm chủ công nghệ lõi và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược. Các doanh nghiệp viễn thông lớn đã đầu tư mạnh vào nghiên cứu và sản xuất thiết bị, từng bước làm chủ các thành phần quan trọng của mạng 5G. Tập đoàn Viettel đi đầu trong nghiên cứu chế tạo sản phẩm 5G “Make in Vietnam."

Trạm gốc 5G có vị trí quan trọng trong cấu trúc hạ tầng mạng viễn thông, được Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel (Tập đoàn Viettel) làm chủ toàn bộ phần cứng và phần mềm, toàn trình từ nghiên cứu, thiết kế đến sản xuất. Tháng 6/2024, Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng nhận đối với các Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về Thiết bị trạm gốc thông tin di động 5G: QCVN 128:2021/BTTTT cho thiết bị trạm gốc gNodeB 32T32R và gNodeB 8T8R. Đây là những dấu mốc rất quan trọng khẳng định thiết bị của Viettel đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn quốc gia của Việt Nam, đảm bảo rằng sản phẩm 5G "Make in Vietnam" được sản xuất phù hợp với các yêu cầu về an toàn, chất lượng và hiệu suất.

Giữa tháng 10/2025, Tổ chức nghiên cứu và tư vấn công nghệ hàng đầu thế giới Gartner đã công bố Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel là doanh nghiệp có thế mạnh chuyên biệt, ghi nhận vai trò tiên phong trong thương mại hóa trạm gốc 5G Open RAN. Viettel High Tech cũng là doanh nghiệp duy nhất tại Đông Nam Á được Gartner ghi danh trong lĩnh vực hạ tầng 5G, qua đó góp phần đưa Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia làm chủ công nghệ 5G tiên tiến. Tháng 12/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ ghi nhận số trạm vô tuyến 5G Viettel - Make in Vietnam phát sóng mới, có thể hoạt động theo tiêu chuẩn O-Ran là 2011 trạm.

Chip 5G là một bộ xử lý quan trọng trong hệ thống mạng viễn thông, đảm bảo tốc độ truyền tải dữ liệu cao, giảm độ trễ và tối ưu hóa hiệu suất mạng. Viettel định hướng nghiên cứu và sản xuất chip 5G nhằm chủ động công nghệ lõi, giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài. Chip 5G DFE (Digital Front-End) do Viettel nghiên cứu và phát triển với khả năng tính toán 1.000 tỷ phép toán trên giây, đáp ứng tiêu chuẩn 5G của Hiệp hội các tổ chức phát triển giao thức viễn thông di động (3GPP).

Phát triển chip 5G DFE giúp Viettel khẳng định vị thế trong ngành công nghiệp bán dẫn, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Thành công này cũng tạo tiền đề để Việt Nam có thể chủ động trong lĩnh vực công nghệ cao, giảm sự phụ thuộc vào chip nhập khẩu.

Làm chủ mạng lõi 5G được xem là yếu tố chiến lược, bởi đây là phần trung tâm vận hành và khai thác doanh thu của mạng viễn thông, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo chủ quyền số quốc gia. Với hướng tiếp cận "tự chủ-mở-thông minh," Viettel đã phát triển hoàn chỉnh hệ sinh thái mạng lõi 5G Core, phục vụ cả mạng di động thương mại và mạng riêng 5G (Private 5G) cho doanh nghiệp. Đến nay hệ thống đã hỗ trợ hàng triệu thuê bao 5G NSA (dựa trên nền 4G) và 5G SA (hoạt động độc lập).

Trên cơ sở kinh nghiệm làm chủ công nghệ 4G, đến nay Viettel đã làm chủ hoàn toàn hệ sinh thái sản phẩm ở tất cả các lớp mạng 5G, bao gồm trạm thu phát sóng gNodeB theo chuẩn ORAN, thiết bị truyền dẫn IP, các hệ thống tổng đài và hệ thống tính cước thời gian thực OCS 4.0. Các sản phẩm này được phát triển theo định hướng mở (OpenRAN, Open Network API, ONAP…), mềm hóa (SDN), ảo hóa (NFV) trên kiến trúc Cloud Native, đồng thời tăng cường ứng dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo, học máy trong phân tích và xử lý dữ liệu.

Các sản phẩm do Viettel phát triển đã được triển khai với quy mô lớn trên mạng lưới của Viettel tại Việt Nam và các thị trường đầu tư, trong đó có những hệ thống trên mạng lưới sử dụng 100% sản phẩm do Viettel phát triển như hệ thống tính cước thời gian thực vOCS. Các thiết bị viễn thông 5G của Viettel cũng đã bước đầu được xuất khẩu sang các thị trường như Ấn Độ và UAE.

Từ những thành công của Viettel với mạng 5G, Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel, đề xuất các giải pháp để các sản phẩm công nghệ chiến lược được triển khai đạt yêu cầu đề ra. Đó là ban hành các cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; đầu tư cơ sở hạ tầng trọng điểm theo cơ chế nhà nước đầu tư, doanh nghiệp vận hành các phòng thí nghiệm, cơ sở đo lường, thử nghiệm trọng điểm để đánh giá các sản phẩm công nghệ chiến lược; hợp tác 3 nhà (nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp).

ttxvn-vinaphone-chinh-thuc-cung-cap-dich-vu-5g.jpg

(Ảnh: Minh Quyết/TTXVN)

Đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, giữ vai trò then chốt trong mô hình tăng trưởng mới của đất nước. Đây là trục chính xuyên suốt trong hệ thống chính sách hiện nay. Cùng với Nghị quyết 57, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới cùng nhiều quyết sách khác của Đảng và Nhà nước đóng vai trò bổ trợ, hoàn thiện cách tiếp cận phát triển theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy thị trường làm động lực, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm phương thức phát triển chủ đạo.

Danh mục 6 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên được xác định tại Quyết định số 2815/QĐ-TTg cho thấy sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy hoạch định chính sách, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, yếu tố cốt lõi trong mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, từ định hướng chính sách đến triển khai thực tiễn vẫn còn khoảng cách đáng kể, đòi hỏi những cơ chế đủ mạnh để tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, thị trường và năng lực triển khai.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (Nafosted), đơn vị có chức năng tài trợ, đặt hàng thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ nguồn ngân sách nhà nước, thông qua cơ chế kêu gọi đề xuất, đã có một số nhiệm vụ nghiên cứu có nội dung và phạm vi sản phẩm phù hợp với các nhóm công nghệ chiến lược ưu tiên này và tạo ra một số kết quả đáng ghi nhận, song, về tổng thể vẫn còn rời rạc, thiếu tính liên kết. Nguyên nhân là do các nhiệm vụ được hình thành từ các đề xuất riêng lẻ, mỗi nhiệm vụ theo đuổi mục tiêu và chỉ tiêu sản phẩm khác nhau, nên chưa tạo được một bức tranh tổng thể.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Ngọc Chiến nhận định, trên thực tế, việc triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược vẫn đang ở giai đoạn khởi động nên chưa bộc lộ đầy đủ các khó khăn cụ thể. Tuy nhiên, có thể khẳng định, nguồn lực tài chính về cơ bản không phải là vấn đề lớn, vì Chính phủ đã có chủ trương và bố trí nguồn lực cho phát triển công nghệ chiến lược.

Về nhân lực, Việt Nam cũng có khả năng thu hút và huy động đội ngũ phù hợp. Thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế. Nhiều quy định vẫn còn mang tính khung, thiếu cụ thể, chưa đủ chi tiết để triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Một số văn bản quy phạm pháp luật còn chung chung, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện. Đặc biệt, cơ chế chính sách chưa thực sự phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Ví dụ, đối với viện nghiên cứu, trường đại học, lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi cần cơ chế khoán chi linh hoạt, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, doanh nghiệp lại không nhất thiết cần hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách, mà quan tâm nhiều hơn đến các chính sách như ưu đãi thuế, đất đai, hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn, hay bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Ngọc Chiến cho rằng thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng nhận diện đúng “điểm nghẽn” của từng nhóm đối tượng để có chính sách phù hợp; không thể áp dụng một cơ chế chung cho tất cả, mà cần thiết kế các công cụ hỗ trợ linh hoạt, sát với nhu cầu thực tiễn của viện, trường và doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy hiệu quả phát triển công nghệ chiến lược.

“Qua khảo sát thực tế, chúng tôi cũng ghi nhận một số doanh nghiệp đã làm chủ gần như hoàn toàn công nghệ, thậm chí đã hoàn thiện sản phẩm và sẵn sàng đưa ra thị trường. Họ không còn nhu cầu hỗ trợ kinh phí nghiên cứu vì đã đi qua giai đoạn này. Điều họ cần lúc này không phải là tiền, mà là cơ chế - cụ thể là Nhà nước phải đóng vai trò là khách hàng đầu tiên," Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Ngọc Chiến chia sẻ và cho biết thêm, một số doanh nghiệp cũng đề xuất cơ chế hỗ trợ theo hướng “hậu kiểm," tức là sau khi đã đầu tư nghiên cứu thành công, có thể được đánh giá, kiểm toán chi phí và Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí. Đây là cách tiếp cận linh hoạt, phù hợp với những doanh nghiệp đã chủ động đầu tư và chịu rủi ro trong giai đoạn nghiên cứu.

Đề cập đến mô hình kết nối ba nhà: Nhà nước-Viện/trường đại học-Doanh nghiệp, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đào Ngọc Chiến khẳng định, mô hình “ba nhà” là cách tiếp cận phù hợp nhất để phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược. Bởi lẽ, bản chất của công nghệ chiến lược là phải có hàm lượng khoa học cao, tính tiên tiến và khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh. Để đạt được điều đó, cần sự tham gia của đội ngũ nhà khoa học trong việc nghiên cứu, làm chủ và phát triển các công nghệ lõi, sau đó tích hợp vào sản phẩm của doanh nghiệp. Trong khi đó, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ năng lực nghiên cứu và phát triển ở mức sâu. Ngoại trừ một số doanh nghiệp lớn có tiềm lực mạnh, phần lớn doanh nghiệp vẫn cần hợp tác với viện, trường để giải quyết các bài toán khoa học cốt lõi. Khi hai chủ thể này kết nối được với nhau, Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo thông qua cơ chế, chính sách và nguồn lực hỗ trợ phù hợp. Vì vậy, việc phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược theo mô hình liên kết ba nhà không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là giải pháp hiệu quả nhất trong bối cảnh hiện nay.

viettel-bach-khoa-ha-noi-mang-5g.jpg

Lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội và lãnh đạo Viettel cùng các giảng viên, cán bộ hai đơn vị nghe giới thiệu, tham quan phòng thí nghiệm 5G/6G. (Nguồn: Đại học Bách khoa Hà Nội)

Dự thảo Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Nafosted đang được trình Chính phủ xem xét thông qua đã quy định rõ một chức năng quan trọng của Quỹ là đóng vai trò “cầu nối," “bà mối” trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới-sáng tạo. Theo đó, Quỹ sẽ chủ động xây dựng đội ngũ và cơ chế để kết nối nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, qua đó thúc đẩy hình thành các nhiệm vụ và dự án chung, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Về nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển 6 nhóm sản phẩm công nghệ ưu tiên chiến lược Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030 với mức hỗ trợ tối đa lên tới 1 tỷ đồng/năm cho mỗi nghiên cứu sinh trong thời gian không quá 3 năm vừa được thông qua tại Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN. Dự kiến đến năm 2030, mỗi năm, chương trình sẽ hỗ trợ khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc với mức hỗ trợ tài chính cạnh tranh quốc tế, qua đó tạo động lực và sức hút đủ lớn, không chỉ giữ chân nhân tài trong nước mà còn thu hút nghiên cứu sinh quốc tế đến Việt Nam. Bên cạnh nhân lực, Quỹ cũng chú trọng phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ. Thông qua các chương trình tài trợ, Quỹ sẽ hỗ trợ đầu tư, nâng cấp và kết nối các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, cơ sở dữ liệu khoa học, cũng như các hệ thống thiết bị thử nghiệm, kiểm định… phục vụ trực tiếp cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ), đơn vị đã và đang phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược như UAV, robot tự hành, cần xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước không chỉ ban hành cơ chế, chính sách mà còn hỗ trợ nguồn lực cho doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp đặt hàng trở lại các viện nghiên cứu, trường đại học. Cách tiếp cận này góp phần hình thành một vòng liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước-doanh nghiệp -nhà khoa học, tạo nền tảng cho thị trường công nghệ phát triển, khắc phục hạn chế của mô hình nghiên cứu đơn lẻ trước đây.

Nêu một số kinh nghiệm quốc tế, ông cho biết, tại Mỹ, thông qua Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF), Nhà nước giao cộng đồng khoa học xây dựng các báo cáo chiến lược dài hạn, xác định rõ các hướng nghiên cứu ưu tiên, từ đó cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, đơn đặt hàng cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Cách làm này tạo nên chuỗi liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể, đồng thời gợi mở hướng tiếp cận phù hợp cho Việt Nam trong việc tổ chức triển khai các chương trình công nghệ chiến lược theo hướng có trọng tâm, trọng điểm.

Từ thực tiễn triển khai tại Tập đoàn MK cho thấy tiềm năng làm chủ công nghệ trong doanh nghiệp là hoàn toàn khả thi khi có cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Thành công từ sản phẩm Camera AI phục vụ nhận diện, giám sát thông minh, ông Nguyễn Trung Kiên, Tổng Giám đốc MK Vision cho rằng, điều doanh nghiệp cần là những đơn đặt hàng cụ thể, trong đó Nhà nước đóng vai trò “khách hàng đầu tiên”, đặc biệt đối với các sản phẩm lưỡng dụng. Đây không chỉ là nguồn lực trực tiếp mà còn là động lực quan trọng để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, hoàn thiện công nghệ.

Nhà nước là khách hàng đầu tiên

Tại cuộc họp triển khai Quyết định 2815 của Thủ tướng Chính phủ, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã đưa ra nhận định: “Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư nghiên cứu và phát triển sản phẩm, nhưng vấn đề lớn nhất là đầu ra thị trường. Nhiều sản phẩm công nghệ nếu không có cơ hội triển khai thực tế sẽ khó hoàn thiện và thương mại hóa."

Nhiều bài toán thực tiễn của bộ, ngành và địa phương cũng được đại diện các Bộ, ngành, địa phương nêu ra. Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội Cù Ngọc Trang cho biết thành phố đang xem xét đặt hàng các hệ thống camera AI xử lý tại biên phục vụ đô thị thông minh, đặc biệt trong các lĩnh vực giao thông, môi trường và quản lý đô thị. Tại Đà Nẵng, các đề xuất đặt hàng tập trung vào truy xuất nguồn gốc nông sản và xây dựng bản đồ số; trong khi Cần Thơ quan tâm tới UAV phục vụ nông nghiệp và giám sát sạt lở bờ sông.

Ở cấp bộ ngành, đại diện Bộ Xây dựng cho biết nhu cầu ứng dụng UAV, robot tự hành và camera AI là rất lớn trong giám sát công trình, hạ tầng giao thông và các khu vực khó tiếp cận. Trong khi đó, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quan tâm tới các hệ thống AI phục vụ phân tích hồ sơ và ứng dụng UAV trong thu thập dữ liệu phục vụ xử lý vi phạm.

Chia sẻ về nội dung này, ông Hoàng Anh Tú cho biết Nhà nước sẽ đóng vai trò khách hàng đầu tiên, thông qua các dự án đặt hàng, nhằm tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm. Cụ thể, đối với camera AI, đã có các đơn đặt hàng phục vụ mục đích giám sát, an ninh cho Bộ Công an; phục vụ xây dựng, giao thông cho Bộ Xây dựng; phục vụ y tế, giáo dục cho Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với Thiết bị bay không người lái (UAV), đã có nhiệm vụ đặt hàng cho Bộ Quốc phòng (trinh sát, cứu hộ); Bộ Nông nghiệp và Môi trường (phục vụ nông nghiệp, môi trường); Bộ Y tế. Đối với robot di động tự hành, các đơn đặt hàng tập trung cho Bộ Công Thương (logistics, nhà máy); Bộ Công an (an ninh); các địa phương (phát triển đô thị).

Các nhiệm vụ này không chỉ dừng lại ở nghiên cứu mà yêu cầu sản phẩm đầu ra phải có địa chỉ ứng dụng, cơ quan tiếp nhận và lộ trình thương mại hóa rõ ràng. Trên cơ sở định hướng khung giao nhiệm vụ này của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương căn cứ nhu cầu của mình để xây dựng đặt hàng. Hiện tại, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có công văn số 1386/BKHCN-CN ngày 13/3/2026 gửi các bộ, ngành, địa phương hướng dẫn cụ thể để triển khai thực hiện.

Đối với 6 sản phẩm công nghệ chiến lược này, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã đặt ra những tiêu chí, yêu cầu cụ thể về năng lực công nghệ, tỷ lệ nội địa hoá và khả năng tham gia chuỗi giá trị cũng như những cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia phát triển như doanh nghiệp phải nghiên cứu, làm chủ các khâu từ thiết kế, tích hợp, chế tạo đến thử nghiệm và đưa vào ứng dụng thực tế. Yêu cầu cụ thể là phải làm chủ tối thiểu 80% công nghệ lõi của sản phẩm; tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong giá bán sản phẩm phải đạt tối thiểu 60% và trong giá thành sản phẩm phải đạt tối thiểu 40%; doanh nghiệp cần phát triển được các môđun có giá trị gia tăng cao, có khả năng thương mại hóa trong chuỗi giá trị toàn cầu. Sản phẩm phải có khả năng thay thế nhập khẩu, đáp ứng tối thiểu 30% thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu; ít nhất 60% nhiệm vụ nghiên cứu của doanh nghiệp phải có đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được chấp nhận và 100% kết quả phải được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín...

Khi tham gia vào chương trình này, doanh nghiệp sẽ nhận được kinh phí thực hiện từ ngân sách nhà nước, ưu tiên trong tổng số 15% tổng chi ngân sách cho sự nghiệp khoa học và công nghệ. Doanh nghiệp còn được hỗ trợ thông qua các hình thức lãi suất vay ưu đãi và các loại phiếu hỗ trợ tài chính (voucher) cho hoạt động đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, đổi mới công nghệ.

Theo Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, thay vì để doanh nghiệp "tự bơi," Nhà nước sẽ thực hiện cơ chế đặt hàng trực tiếp các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ cho các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu phối hợp cùng viện nghiên cứu, trường đại học. Đặc biệt, các cơ quan chức năng đang khẩn trương xây dựng cơ chế mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ trong nước để tạo thị trường đầu ra ổn định cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cũng được hỗ trợ khai thác, sử dụng dữ liệu từ Trung tâm Dữ liệu quốc gia và các kho dữ liệu dùng chung của các bộ, ngành. Đồng thời, Nhà nước đầu tư các hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm, hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC) để doanh nghiệp sử dụng chung nhằm giảm chi phí đầu tư ban đầu…

ttxvn-camera-ai.jpg

Camera AI sẽ phủ sóng toàn bộ các ngã tư trên địa bàn thành phố Hà Nội. (Ảnh: Quốc Lũy/TTXVN)

Về nguồn lực tài chính, ưu tiên phân bổ kinh phí sự nghiệp khoa học từ ngân sách nhà nước, chiếm ít nhất 15% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ để phục vụ các sản phẩm chiến lược này; triển khai các dự án hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC), trung tâm dữ liệu quốc gia và hệ thống các phòng thí nghiệm, khu thử nghiệm chuyên biệt cho từng loại sản phẩm (như khu thử nghiệm UAV). Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đặt mục tiêu hỗ trợ hình thành tối thiểu 30 doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và các sản phẩm chiến lược có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Việc lựa chọn 6 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai không chỉ là bước cụ thể hóa các định hướng lớn của Nghị quyết 57 mà còn là phép thử đối với năng lực điều hành chính sách và khả năng phối hợp của toàn bộ hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Trong đó, việc đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm là điều kiện tiên quyết để chuyển hóa công nghệ chiến lược thành các sản phẩm cụ thể, có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Nếu không hình thành được cơ chế thị trường phù hợp, không tạo được không gian thử nghiệm và chấp nhận rủi ro, chúng ta sẽ khó có thể hiện thực hoá các sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên. Ngược lại, nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn về thể chế, thị trường và hệ sinh thái, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để từng bước làm chủ công nghệ lõi, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số./.

Theo Vietnamplus