Gia đình ông Tô Tấn Thành (54 tuổi), ngụ ấp 7 Chợ bắt đầu chuyển sang nuôi lươn không bùn từ đầu năm 2025, sau hơn 30 năm gắn bó với nghề nuôi tôm, cua. Tận dụng diện tích đất nhà, ông đầu tư hơn 20 bể xi măng và composite, mỗi bể khoảng 8m2, mật độ thả giống dao động 500 con/m2. Những bể nuôi được xếp thành hàng gọn gàng, nước trong bể luôn được giữ sạch, thay định kỳ. Sáng sớm và chiều mát, ông đều đặn kiểm tra, cho lươn ăn. “Lươn không chịu nước dơ nên ngày nào cũng phải theo dõi. Thấy nước đục là phải thay liền, cho ăn cũng phải đúng giờ. Làm sơ sài là hao hụt ngay”, ông Thành chia sẻ.
Nhờ tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đàn lươn phát triển đồng đều, tỷ lệ sống đạt trên 80%. Sau khoảng 8 tháng, lươn đạt kích cỡ 3 - 4 con/kg, đủ điều kiện xuất bán. Mỗi bể cho sản lượng bình quân khoảng 2 tấn lươn thương phẩm. Tuy nhiên, giá lươn hiện chỉ dao động 60.000 - 70.000 đồng/kg, giảm đáng kể so với trước đây. Dù sản lượng đạt, mỗi bể chỉ mang về khoảng 120 triệu đồng/vụ. Sau khi trừ chi phí con giống, thức ăn, điện nước và công chăm sóc, lợi nhuận không còn nhiều.
.jpg)
Nhân công sơ chế lươn để làm khô. Ảnh: BẢO TRÂN
Theo ông Thành, cái khó nhất không nằm ở kỹ thuật mà chính là đầu ra. Lươn chủ yếu tiêu thụ qua thương lái, giá bấp bênh. “Có lúc giá xuống thấp, bán ra gần như chỉ đủ chi phí, người nuôi không có lãi. Mình nuôi được nhưng không quyết định được giá nên lo”, ông Thành nói. Chính sự bấp bênh đó khiến ông trăn trở tìm hướng đi khác. Sau nhiều lần thử nghiệm, gia đình ông quyết định chuyển một phần sản lượng sang chế biến khô lươn.
Lươn sau khi thu hoạch được làm sạch, xử lý nhớt kỹ rồi tẩm ướp gia vị. Từng mẻ lươn được xếp đều lên vỉ, đem phơi 3 nắng. Từ 5kg lươn, ông chế biến được khoảng 1kg khô thành phẩm. Với giá bán khoảng 550.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận tăng hơn so với bán lươn tươi. Quan trọng hơn, sản phẩm khô có thể bảo quản lâu, thuận tiện vận chuyển, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thời điểm thu hoạch. Bà Trần Thị Thúy Hằng - vợ ông Thành chia sẻ: “Khô lươn phải canh nắng kỹ. Nắng non thì dễ hư, còn nắng gắt quá thì thịt bị cứng. Bán lươn sống thì phải theo giá thương lái, còn làm khô thì mình chủ động hơn, có thể bán lẻ hoặc để lại chờ giá”.
Thời gian tới, gia đình ông Thành dự kiến mở rộng thêm bể nuôi để chủ động nguồn nguyên liệu, đồng thời, tiếp tục hoàn thiện quy trình chế biến, đóng gói và các thủ tục pháp lý liên quan. Khi các khâu này hoàn chỉnh, khô lươn được kỳ vọng sẽ trở thành hướng đi giúp nâng giá trị con lươn và từng bước xây dựng thương hiệu đặc sản địa phương.
Theo ông Nguyễn Văn Mỹ - Phó trưởng Phòng Kinh tế xã Đông Thái, mô hình nuôi lươn kết hợp chế biến là hướng đi phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Việc chuyển từ bán nguyên liệu sang chế biến giúp gia tăng giá trị sản phẩm, đồng thời, giảm phụ thuộc vào thương lái, nhất là trong những thời điểm giá cả biến động. Trên địa bàn xã hiện có một số hộ nuôi lươn không bùn với quy mô từ nhỏ đến trung bình, bước đầu cho hiệu quả. Địa phương đang định hướng hỗ trợ người dân tiếp cận các lớp tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn xây dựng bao bì, nhãn hiệu và từng bước hoàn thiện hồ sơ sản phẩm OCOP.
BẢO TRÂN