Từ tư duy…
Nói về quá trình gắn bó với rau an toàn ứng dụng công nghệ cao, ông Phong cho biết: “Thời điểm Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 09-NQ/TU về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tôi đã manh nha ý tưởng thực hiện mô hình. Được ngành chuyên môn địa phương cho đi học tập, tiếp cận mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, tôi đủ niềm tin bắt tay thực hiện. Thời kỳ khởi đầu, tôi được hỗ trợ 1.000m2 nhà màng để trồng dưa lưới và gắn bó với nông nghiệp công nghệ cao đến nay”.

Ông Hồ Tấn Phong bên vườn dưa ứng dụng công nghệ cao. Ảnh: THANH TIẾN
Dẫn chúng tôi tham quan trang trại, ông Phong cho biết đang áp dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp của Israel, thông qua hệ thống tưới nhỏ giọt. Để ứng dụng thuần thục công nghệ này, ông mày mò học hỏi cách vận hành hệ thống, kỹ thuật canh tác cho phù hợp với điều kiện thực tế. Chỉ tay về hệ thống cung cấp nước tưới cho cả trang trại, ông Phong bật mí: “Chỉ riêng khâu nước tưới, tôi phải lắng lọc kỹ, đảm bảo không mang mầm bệnh. Vì mình trồng rau theo tiêu chí an toàn, không thể làm qua loa như canh tác đại trà. Ngoài ra, giá thể trồng cây trong nhà màng phải là hỗn hợp hữu cơ, đảm bảo sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng”.
Vào thăm khu vực mới xuống giống dưa lưới, ông Phong chăm chút từng thân cây nhỏ mới chớm xanh giữa màu trắng mênh mông của nhà màng. Nhờ sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt nên ông tiết kiệm nguồn nước, nhưng vẫn đủ cho nhu cầu của cây trồng. Đồng thời, nông dân này cũng sử dụng hệ thống tưới hẹn giờ với 10 lần tưới/ngày, mỗi lần tưới khoảng 2 - 3 phút. “Nhờ ứng dụng công nghệ nên tôi tự tin sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì thời gian canh tác đủ lâu, tôi vừa làm vừa rút kinh nghiệm mới có được kết quả như hôm nay”, ông Phong chia sẻ.
…Đến hiệu quả thực tế
Nhờ ứng dụng tốt công nghệ, ông Phong có thể canh tác 3 vụ/năm, với các loại dưa lưới, dưa lê, cà chua. Năng suất trên 1.000m2 nhà màng đạt khoảng 8 tấn/năm. Sau khi trừ các chi phí, nông dân này đạt mức lãi 100 triệu đồng/năm. “Với nguồn thu này, tôi có thể an tâm về kinh tế gia đình cũng như tái đầu tư giống, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, cái khó của mô hình là chi phí đầu tư lớn, khoảng 500 triệu đồng/1.000m2 nên không nhiều người kham nổi”, ông Phong thật tình.
Ông Phong cho rằng, nông dân An Giang vốn cần cù, chịu thương chịu khó, nhưng tư duy chưa theo kịp sự phát triển của thị trường. Nếu có hướng đi phù hợp, họ hoàn toàn đáp ứng được những yêu cầu cao về kỹ thuật sản xuất. Với ông, sản xuất rau an toàn là hướng đi phù hợp, khẳng định được hiệu quả sau 13 năm thực hiện. Hiện nay, ông dự định mở rộng diện tích canh tác thêm 600m2, nâng tổng diện tích nhà màng lên 6.800m2.
Dù chủ động về mặt kỹ thuật với năng suất ổn định, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường nhưng ông Phong vẫn gặp khó về đầu ra. Thời kỳ đầu, sản phẩm của ông được góp mặt ở hệ thống siêu thị, cửa hàng rau an toàn trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, nông dân này chỉ bán nhỏ lẻ tại chợ địa phương hoặc tận dụng hệ thống mạng xã hội để phân phối đi các tỉnh. “Tôi mong muốn được hỗ trợ kết nối đầu ra ổn định để nâng cao lợi nhuận, mở rộng sản xuất. Đồng thời, định hướng sản phẩm đạt chuẩn OCOP nhằm vươn đến những thị trường xa hơn. Ngoài ra, tôi đang gặp khó trong việc xử lý thân, lá cây dưa lưới thành phân hữu cơ để tái sử dụng, đảm bảo vệ sinh môi trường”, ông Phong đề xuất.
THANH TIẾN