
Anh Phan Văn Út, ngụ xã An Biên thăm lú tôm trong vuông nhà. Ảnh: ĐẶNG LINH
Giữa cái nắng gay gắt của miền Tây, vườn dâu sinh thái Mê Linh Gia của anh Hứa Trường Giang, ở xã Thạnh Lộc trở thành điểm trốn nóng quen thuộc của nhiều du khách. Phía sau không gian xanh mát ấy là cách làm nông nghiệp đã khác, không chỉ sản xuất mà hướng đến khai thác giá trị kinh tế đa tầng từ chính khu vườn.
Khởi đầu từ vườn dâu sẵn có, anh Giang không chặt bỏ để trồng cây khác như nhiều hộ dân. Anh giữ lại những gốc dâu lâu năm, cải tạo theo hướng hữu cơ. Tán dâu được tận dụng như mái nhà xanh kết hợp ao cá, cây trồng và cảnh quan, hình thành không gian sinh thái gần gũi, thuận thiên.Quan trọng hơn, anh Giang thay đổi cách tiếp cận. Trước khi đầu tư, anh dành thời gian khảo sát nhu cầu thị trường, nhất là xu hướng du lịch trải nghiệm. “Nếu chỉ trồng dâu bán trái thì giá trị không cao và bấp bênh. Khi thấy du khách cần không gian xanh, trải nghiệm và dịch vụ đi kèm, tôi tính lại hiệu quả kinh tế, chuyển sang làm vườn sinh thái”, anh Giang nói.
Khu vườn sinh thái của anh Giang thu hút nhiều du khách đến đây để dạo vườn, chụp ảnh, tận hưởng không gian xanh và trải nghiệm nông nghiệp. Cách phục vụ cũng thay đổi theo hướng hiện đại. Khách quét mã QR để chọn món, thanh toán không dùng tiền mặt, tạo sự tiện lợi, nhanh gọn.
Trường hợp của gia đình anh Giang cho thấy chuyển động rõ nét từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp. Sự thay đổi không chỉ nằm ở mô hình mà ở tư duy, biết nhìn thị trường, tổ chức dịch vụ và tạo giá trị gia tăng trên cùng diện tích.
Xu hướng này đang lan rộng ở nhiều lĩnh vực khác. Tại xã An Biên, anh Trương Định Tân chọn hướng đi khác với lối nuôi truyền thống. Mỗi sáng, anh tỉ mỉ chăm sóc đàn chồn hương, công việc đòi hỏi sự kiên trì và đều đặn. Trước đây, anh Tân chủ yếu nuôi chồn thịt bán cho thương lái. Tuy nhiên, giá bấp bênh khiến hiệu quả không ổn định. “Nuôi kiểu cũ phụ thuộc nhiều vào thương lái, rủi ro cao. Tôi chuyển sang nuôi sinh sản, vừa bán con giống vừa bán chồn thịt để chủ động nguồn thu”, anh Tân cho biết.
Hiện, giá chồn thương phẩm duy trì hơn 1 triệu đồng/kg, trong khi một cặp chồn giống có thể bán từ 7 - 15 triệu đồng. Với mỗi cặp chồn sinh sản từ 2 - 4 con/năm, anh Tân có thêm nguồn thu đáng kể. Anh không còn bị động về đầu ra, yên tâm chăn nuôi.
Trong lĩnh vực thủy sản, anh Phan Văn Út, ngụ xã An Biên cũng đang từng bước chuyển đổi. Sau cơn mưa lớn, anh tất bật rải vôi xử lý vuông tôm phía sau nhà để ổn định môi trường nước. Công việc vừa xong, anh chở 5 thùng tôm giống, 2 bao thức ăn cho tôm giao cho người dân trong ấp.
Không chỉ nuôi tôm thương phẩm, anh Út còn cung cấp con giống và vật tư đầu vào, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho người nuôi xung quanh. Theo anh Út, chi phí con giống chiếm tỷ trọng từ 30 - 40% giá thành sản xuất. “Với khoảng 3ha vuông tôm, mỗi vụ tiền con giống hơn 30 triệu đồng nên nếu không tính kỹ rất dễ đội chi phí. Tận dụng kiến thức học ngành thủy sản và hơn 15 năm kinh nghiệm, tôi mở đại lý bán tôm giống, vừa cung cấp cho bà con với giá hợp lý vừa chủ động nguồn giống nên giảm chi phí đáng kể”, anh Út cho biết. Cách làm này giúp anh không chỉ giảm chi phí sản xuất mà còn mở rộng nguồn thu từ dịch vụ đầu vào, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị ngành tôm.
Điểm chung của các mô hình là không dừng lại ở sản xuất đơn thuần. Nông dân bắt đầu tính chi phí, chọn hướng đi phù hợp, kết hợp nhiều khâu như con giống, dịch vụ, tiêu thụ… để nâng cao giá trị. Dẫu vậy, quá trình chuyển đổi không dễ dàng. Việc thay đổi tư duy, đầu tư vốn, tiếp cận kỹ thuật mới vẫn là rào cản với nhiều hộ dân. Thị trường mở ra cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro đòi hỏi người làm nông phải nhạy bén và tính kỹ.
ĐẶNG LINH